Thời bao cấp có rất nhiều loại tem phiếu, không thể nhớ hết được. Ví dụ Phiếu chứng nhận máy thu thanh chẳng hạn, tui quên khuấy đi mất. Còn các loại tem gạo, tem vải, tem đường thì nhiều vô kể. Trung ương phát hành rồi về tỉnh còn phát hành tem phiếu riêng, lại còn quân đội, công an, khu này khu kia, miền Nam miền Bắc, nhiều lắm. Năm nay phát hành loại này, năm sau phát hành loại khác. Nếu sưu tập đầy đủ có lẽ lên đến ngàn loại. Tui cũng sưu tầm được gần trăm loại, nay chọn một số loại tiêu biểu trưng ra cho bà con xem, để nhớ một thời hào hùng một thời đau khổ, hi hi.


5

10







( Cảm ơn bạn qwaser.nguyen đã sưu tầm và gửi cho những hình ảnh quý hiếm này )

//

Chiều 13/1, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư, Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường và lãnh đạo Hà Nội và TP HCM đã đăng đàn tại Đại hội Đảng XI, đề xuất các giải pháp đột phá để phát triển đất nước.
> ‘Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ trong Đảng’

Đại biểu Võ Hồng Phúc. Ảnh: Hoàng Hà.
Đại biểu Võ Hồng Phúc. Ảnh: Hoàng Hà.

Đại biểu Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư: Hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh so với khu vực và thế giới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt trên 101,6 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1.160 USD. Năng lực sản xuất nhiều ngành kinh tế tăng đáng kể. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, một số cân đối lớn của nền kinh tế (ngân sách nhà nước, cán cân thanh toán tổng thể, nợ quốc gia và dự trữ ngoại tệ…) cơ bản được đảm bảo.

Yếu tố thành công, quan trọng nhất là sự lãnh đạo của Đảng. Kinh nghiệm đối phó với khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã minh chứng điều này. Chúng ta đã có sự đồng thuận xã hội, tạo nên thống nhất trong Đảng, thành công này không dễ gì các nước khác có được.

Muốn thực hiện được tốt nghị quyết thì trong nội bộ Đảng từ cơ sở đến trung ương phải thống nhất từ tư tưởng, chỉ đạo tới hành động. Muốn thống nhất phải đoàn kết. Đó là bài học để chúng ta thấm nhuần để phát huy trong thời gian tới. Tôi nhận thấy có bài học là mỗi đảng viên khi xác định đúng vị trí, chịu sự phân công của Đảng sẽ tạo được sự toàn tâm toàn ý rất nhiều. Tôi làm tốt được công việc cũng nhờ 3 chữ: Đảng phân công.

Thời gian tới, theo tôi cần đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Trong 10 năm qua, nền kinh tế nước ta đã phát triển khá nhanh, nhưng thực tiễn cho thấy, trong phát triển nhanh phải đặc biệt coi trọng tính bền vững, phải kịp thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải quyết hài hòa mỗi quan hệ giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; giải quyết hợp lý giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng.

Đại biểu Phạm Khôi Nguyên.
Đại biểu Phạm Khôi Nguyên.

Đại biểu Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường: Đổi mới tư duy, có những giải pháp mang tính đột phá. Thứ nhất cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, phát triển kinh tế xanh.

Thứ hai là đẩy mạnh cơ chế kinh tế hóa, chuyển đổi quyết liệt cơ chế nặng về “bao cấp”, “xin – cho”, nặng về kiểm soát hành chính trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang cơ chế thị trường, nâng tầm đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế quốc dân. Thứ ba là hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm.

Ngoài ra, chúng ta cần nâng cao hơn nữa nhận thức về nguy cơ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao đối với sự phát triển bền vững. Theo dự báo, Việt Nam là một trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Nhiều vùng ven biển, một phần lớn đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập nước biển trong tương lai. Nếu nước biển dâng cao 1 m thì 90% diện tích các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập hầu như hoàn toàn, tổn thất với GDP khoảng 10%.

Trong thời gian tới cần tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quản lý nhà nước về môi trường. Lực lượng cán bộ quản lý môi trường hiện mới chỉ khoảng 10 người trên 1 triệu dân, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 20 người, Thái Lan là 30 và Malaysia là 100.

Đại biểu Vũ Hồng Khanh. Ảnh: Hoàng Hà.
Đại biểu Vũ Hồng Khanh. Ảnh: Hoàng Hà.

Đại biểu Vũ Hồng Khanh Phó chủ tịch UBND Hà Nội: Đẩy mạnh kinh tế tri thức. Việt Nam có đủ năng lực và điều kiện để thực hiện thành công đường lối phát triển kinh tế tri thức – đường lối táo bạo, đầy tính sáng tạo. Để phát triển nền kinh tế tri thức hiệu quả, cần khẩn trương xây dựng Chương trình phát triển kinh tế tri thức mang tầm cỡ quốc gia, coi đây là “trục” của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Tập trung ưu tiên xây dựng hai trung tâm quốc gia về công nghệ cao ở Hà Nội và TP HCM, coi đây là mẫu hình, là đầu tàu phát triển khoa học – công nghệ- công nghiệp của cả nước.

Phát triển các khu công nghiệp – công nghệ cao cấp vùng, với hạt nhân là các Vườn ươm công nghệ – Vườn ươm doanh nghiệp hiện đại, thay thế các Khu công nghiệp kiểu cũ, đang tỏ ra kém hiệu quả, thậm chí cản trở sự phát triển. Cần lôi kéo, thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia, có tiềm lực khoa học – công nghệ, tài chính mạnh đầu tư vào Việt Nam; khuyến khích họ xây dựng các trung tâm nghiên cứu – phát triển, tạo kênh để từ đó tri thức công nghệ lan tỏa rộng rãi ra toàn bộ nền kinh tế.

Đại biểu Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư thường trực TP HCM: Chuyển từ cơ cấu kinh tế địa phương sang cơ cấu kinh tế vùng. Trong giai đoạn tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa, nhiều tỉnh đã từng bước mở rộng về quy mô diện tích để xây dựng thành những nền kinh tế có cơ cấu hoàn chỉnh (công – nông nghiệp), nhưng khi chuyển qua kinh tế thị trường, tư duy cơ cấu kinh tế tỉnh vẫn không mấy thay đổi, dù nhiều tỉnh đã được chia tách nhỏ hơn.

Trong khi đó, chúng ta hình thành các vùng kinh tế, đặc biệt là 3 vùng kinh tế trọng điểm ở cả 3 miền, nhưng trên thực tế vẫn chưa có chính sách và cơ chế vận hành để thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Tình trạng trên dẫn đến phân tán nguồn lực sản xuất quốc gia, đầu tư công và cả đầu tư tư nhân cũng bị dàn trải; các vùng kinh tế trọng điểm không có sức mạnh của liên kết vùng. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần nhìn ở quy mô nền kinh tế quốc gia và các vùng kinh tế để có sự liên kết về chức năng kinh tế của chính quyền địa phương.

Thực tiễn đối với TP HCM, với vị trí địa lý phát triển trong lịch sử có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ và Tây Nguyên trong phạm vi hẹp hơn, thành phố đã và đang là “hạt nhân” trong mối quan hệ mang “tính cơ cấu” của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nếu có chính sách thúc đẩy và cơ chế điều hành phù hợp sẽ nâng cao được chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển đô thị bền vững cho cả Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; đồng thời tạo động lực cho sự phát triển của cả miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoàng Khuê – Việt Anh\

( Vnepress )

Hai ứng viên có sức mạnh ngang ngửa chạy đua chức vụ Tổng Bí thư đó là: ÔNG TRƯƠNG TẤN SANG VÀ ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG ?
Wikileaks vừa công bố bức điện của Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, Michael Michalak, bình luận về ban lãnh đạo mới của Việt Nam sau đại hội Đảng.

Khi mà có đến 6 trong số 15 ủy viên Bộ chính trị dự kiến về hưu thì, ”Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là hai ứng viên hàng đầu để thay Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh,” theo bức điện mà Bấm Wikileaks tiết lộ về Việt Nam.

Vào Bộ chính trị từ năm 1996 cả ông Dũng và ông Sang đầu có nhiều ảnh hưởng trong Đảng – Chính phủ, và ”có lẽ là hai nhân vật chính trị có nhiều quyền lực nhất ở Việt Nam”.

Vấn đề là hai ông đều là người miền Nam do vậy người ta đoán có lẻ ông Sang sẽ bị loại theo qui ước chân vạc ba miền.

Nếu ông Dũng không đứng đầu Đảng thì có nhiều khả năng ông sẽ ngồi lại ghế thủ tướng.

Trong trường hợp đó, hai ứng viên mạnh khác là Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng, và ủy viên mới nhất của Bộ Chính trị là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng, Tô Huy Rứa, bức điện viết.

Đại sứ Mỹ nhận xét ông Dũng và ông Sang không chuộng cải cách chính trị như là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhưng mọi người biết họ ”thực dụng, theo kinh tế thị trường, và đều muốn có thêm những bước tiến trong quan hệ với Hoa Kỳ”.

Bức điện đánh giá ông Trọng cũng tương tự, nhưng ông Rứa thì hoàn toàn khác vì việc ông được vào Bộ chính trị ”phản ánh và khẳng định khuynh hướng bảo thủ”.

”Vai trò của ông trong tiến trình chuyển đổi lãnh đạo của Việt Nam sẽ cho thấy sự tự do hóa chính trị – hiện đang ngưng – có được tiếp tục sau 2011, hay sẽ vẫn bị bóp nghẹt.”

Ngày càng già

Độ tuổi tối đa 67 (tăng từ 65 ngay trước Đại hội X) có lẽ sẽ được áp dụng tại đại hội lần này, theo các nguồn tin của Sứ quán Mỹ.
Ông Nguyễn Phú Trọng cũng được nêu tên trong phần tiết lộ của Wikileaks

Nếu vậy các ông Nông Đức Mạnh (71t), Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết (69t), Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm (67t), Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (67t) sẽ về hưu và người ta phải quyết định trường hợp của ông Nguyễn Phú Trọng (67t) nếu bầu ông là Tổng Bí thư.

Cho chức vụ cao nhất trong đảng này, thì ông Dũng và ông Sang ngang ngửa nhau trong Bộ chính trị, nhưng người ta nhắc nhiều đến ông Sang hơn, theo bình luận của Đại sứ Mỹ.

Trong tư cách Thường trực Ban bí thư, ông Sang trông coi công chuyện hàng ngày của đảng, nhờ vậy ”củng cố được vị thế trong Ban chấp hàng trung ương”.

Mặc dù phần nào mang tiếng trong vụ án Năm Cam, ông Sang được cho là ”người môi giới quyền lực chủ yếu của Đảng trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong kinh tế,” bức điện viết.

Một số nguồn tin của Sứ quán Mỹ nói ông Sang trên thực tế đã bắt đầu thay thế Tổng bí thư.

Cũng theo bức điện, một số nguồn tin khác nghĩ ông Mạnh từ một thời gian qua vẫn ở vị trí chỉ huy nhưng không quyết định chính sách mà đã chuyển sang công tác xây dựng đảng.

Trong khi đó, tham vọng làm Tổng bí thư của ông Dũng đã bị ảnh hưởng sau những chỉ trích về chủ trương khai thác bauxite, Đại sứ Mỹ nhận định.

”Tuy vậy đa số các nguồn tin nghĩ rằng ông Dũng trong vị thế tốt để duy trì ghế thủ tướng,” theo nội dung bức điện mà Wikileaks tiết lộ và được báo The Guardian ở Anh công bố đúng ngày Đ̣ai hội XI khai mạc 12/1/2011.
( Nguồn; BBC )
13:19 | 12/01/2011
(ĐCSVN) – Sáng nay (12-1), tại phiên khai mạc, thay mặt Đoàn Chủ tịch, đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã trình bày Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) tại Đại hội XI. Sau đây là toàn văn Văn kiện quan trọng này.

Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng (khóa X), trình bày
Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI của Đảng (Ảnh CPV)

(Đọc tiếp…)

Tùy bút của Phạm Viết Đào.

Hôm nay đúng 8 giờ ngày 12/1/2011,tại Trung tâm hội nghị quốc tế Mỹ Đình Hà Nội đã chính thức khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; Thời tiết Hà Nội hôm nay nói riêng và khu vực miền bắc nói chung đang tiếp tục phải hứng chịu một đợt rét đậm, rét hại hy hữu, kéo dài bất thường…Theo cơ quan dự báo thời tiết thì đợt rét đậm rét hại tiếp tục bổ sung, tăng cường cho tới ngày 20/1/2011, nghĩa là cho tới lúc bế mạc Đại hội Đảng ? Cơ quan dự báo thời tiết còn dự báo đợt rét đậm, rét hại này có khả năng kéo dài qua Tết Nguyên Đán ?
Sự giở quẻ của thiên nhiên vốn luôn tiềm ẩn nhiều bất trắc, ẩn họa; sự ngẫu nhiên hay đây thật sự là “điềm” mang ẩn ý, thông điệp gì đây của trời, của đất?
Quan sát những biến cố lớn của lịch sử, trước các biến cố lớn thường có các hiện tượng thiên nhiên kèm theo như một chỉ dẫn, một điềm báo khó lòng giải thích ?


Rồng Vàng hiện về trên Đền Đô vào dịp giỗ…

Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, sử sách đã ghi Rồng Vàng xuất hiện! Nhà Lý đã tồn tại được 216 năm.

Cụ Rùa thương tích đầy mình trong năm Đại lễ ngàn năm Thăng Long…

Lê Lợi dựng đế nghiệp ở Thăng Long, Rùa Thiêng nổi lên đòi lại kiếm; Phải chăng Rùa Thiêng muốn báo với Thái Tổ rằng: Bệ hạ không còn cần đến gươm đao nữa, yên trí mà làm ăn, xây dựng và kiến thiết đất nước? Triều Lê tồn tại và kéo dài được 361 năm ?

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Hà Nội hứng chịu những trận mưa như trút nước: Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Còn nhớ, sau Đại hội Đảng IV, Hà Nội cũng đã hứng chịu một đợt rét đậm rét hại xuống tới 6 độ C; sau đó thì xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc.

Trong những ngày khai mạc Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, Hắc Rồng xuất hiện ở phía đông bắc chân trời ?
Ít khi thời tiết mùa đông Hà Nội rét dưới 10 độ C, và cũng ít khi rét đậm, rét hại kéo dài cả tháng trời ?
Con dân trăm họ hướng về Đại hội Đảng, nhìn vào thiên tượng trời đất, chỉ mong cho Đảng cầm quyền, khi đã tự mặc định mình là Thiên Sứ, nhận đứng ra chăn dắt trăm họ thì phải nhận cho hết cái phần trách nhiệm cao cả, thiêng liêng đó! Chăn dân, chăn dắt trăm họ chứ không chỉ chăn dắt cho mỗi dòng họ của riêng mình, cho những ai thuộc Đảng mình cho dù họ là người ưu tú nhất, xứng đáng nhất. Việt Nam có 86 triệu dân trong khi đó chỉ có 3,6 triệu đảng viên. Sứ mạng chăng dân đừng đểt mất lòng dân như Nguyễn Trãi từng mong mỏi.
Muốn hoàn thành được Thiên Sứ thì Đảng phải tự nâng mình lên, phải thường xuyên có sự trao đổi chất, tiếp máu để trở thành một sinh thể sống khỏe khoắn, giao cảm, giao hòa máu thịt với nhân dân, ngang tầm với trí tuệ, khát vọng, xứng đáng với tâm đức, tâm gương của một đảng cầm quyền.
Muốn được như vậy, Đảng nên tránh biến mình thành như một thứ đền thiêng ngự trị, buộc người ta phải thờ cúng mỗi khi tết nhất, ngày rằm, ngày đầu tháng. Chỉ có như vậy, Đảng mới đủ khả năng chèo lái được con thuyền dân tộc vượt qua các thác ghềnh hiểm trở, mới tận kết được lòng dân, sức dân đưa dân tộc hướng về phía trước.
Trong lịch sử đã không ít những triều đại lập được không ít chiến công hiển hách nhưng rồi lại tàn suy nhanh:”Nhà Đinh mở ra nền độc lập dân tộc sơ khai chỉ kéo dài vương triều của mình trong vòng 12 năm vì nội triều tàn sát lẫn nhau; nhà Trần võ công hiển hách như vậy, 3 lần đánh thắng quân Nguyên nhưng triều đại cũng chỉ kéo dài được hơn 175 năm; cái kết cục tàn suy vì sị kéo bè kéo cánh của dòng tộc nhà Trần quá đáng, chỉ biết chăm lo cho dòng họ của mình dẫn đến lòng dân ly tán, oán ghét; nhà Lê tàn suy vì cái đám vua quỷ, vua lợn sau này hèn, đụt, tàn ác, gian tham cuối cùng đành phải dựa vào Chúa Trịnh để giữ ngai vàng hư vị; Tây Sơn 10 ngày quét sạch 29 vạn quân Thanh nhưng lại tàn suy nhanh vì mất cảnh giác với phương Bắc; nhà Nguyễn Gia Long để mất nước vì không cân bằng được quan hệ Đông- Tây, trong ngoài.Hồ Quý Ly nhà cải cách lớn nhất lịch sử với những liệu pháp sốc; xây dựng cả một tòa thành Tây Đô hũng vì ngang tầm với các tòa thành trung cổ châu Âu thế nhưng cũng chỉ tồn tại được 7 năm; Nhà Mạc có lúc cũng tạo nên sự hưng thịnh cho đất nước, triều đại có tư duy biển, gốm sứ nhà Mạc sang cả châu Âu thế nhưng vương triều này cũng chỉ tồn tại 66 năm vì không biết lựa thời, chọn thế…
Thế kỷ XXI là một giai đoạn lịch sử vô cùng trọng đại của dân tộc; bao cơ hội mở ra và bao nguy cơ đang rình rập con đường phát triển vươn lên của đất nước, dân tộc.Đảng hãy vững tin và chỉ khi dựa được vào dân tộc mình; muốn thế phải biết khoan sức dân thông qua những việc làm cụ thể, hữu ích.. Có như thế Đảng mới làm tròn sứ mạng của mình.
Nếu Đảng không có cách khắc phục căn bệnh cố hữu thường mắc của một đảng cầm quyền, một đảng mặc định mình là “thiên sứ”, đó là các căn bệnh: Chủ quan, tự mãn, độc đoán,  xô đẩy tới các hành động tham tàn, bất chấp lòng dân, pháp luật, lẽ phải, đạo lý… dấu hiệu tàn suy của một chế độ, một vương triều mà lịch sử đã từng in dấu…
Nếu không có sự thay đổi mang tính cách mạng, nếu không đáp ứng được vai trò của lịch sử, khát vọng vươn dậy của cả dân tộc sau một ký nguyên nô lệ, chiến tranh loạn lạc, thì cái giá lạnh của đất trời sẽ trở thành giá lạnh của lòng người ?
Phải chăng đây là một thông điệp nhãn tiền, một điềm cảnh báo mà trời đất, lòng dân muốn thông điệp tới các đại biểu tham dư Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI !
P.V.Đ
Đăng bởi: phamvietdaonv | 31.12.2010

CHÚC MỪNG XUÂN TÂN MÃO CỦA BLOG PHAMVIETDAONV

https://i0.wp.com/1.bp.blogspot.com/_qyw5L4xQJmg/TR5c2c-OiDI/AAAAAAAAA48/dNmsXKgR-xk/s1600/Chuc-mung-Nam-moi_07.jpg

Hôm nay, ngày 1/1/2010, ngày đầu tiên của năm 2011, một năm đất nước hứa hẹn sẽ có nhiều biến cố, thử thách; Một năm đòi hỏi mỗi gia đình, mỗi thần dân phải tiếp tục sử dụng trí tuệ nhạy bén, mẫn tiệp của CON MÈO để nghênh tiếp, để thích ứng và để thành đạt …

Nhân dịp Tết đến Xuân về, xin gửi lời cảm tạ tới tất cả các quý vị xa gần, những bà con cư dân mạng đã quan tâm, chia sẻ, động viên, góp ý cho blog Phamvietdaonv…
Xin chúc các quý vị, bè bạn, bà con blogger xa gần một năm mới an khang, thịnh vượng; một năm Tân Mão thật sự PHÚC- LỘC-THỌ !
Đón mừng Xuân Tân Mão năm nay, chủ Blog đã nhận được lời chúc mừng năm mới của: Ngài Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Romania tại Việt Nam Dumitru Olaru; Cựu Đại sứ Romania tại Việt Nam, nhà văn Constantin Lupeanu; Vợ chồng nhà ngoại giao Romania Ovidiu-Costea Carmen; các nhà văn Romania Valeriu Butulescu, Valeriu Stancu; hle@worldbank.org” các bạn Trần Đình Trung, Le Nguyen Nguyen, Phạm Văn Cường, nhà thơ Trần Nhuận Minh…
MỘT LẦN NỮA XIN GỬI VẠN LỜI CẢM TẠ TỚI TẤT CẢ CÁC QUÝ VỊ !
Nhà văn Phạm Viết Đào.
Châu Xuân Nguyễn.
(CXN_1076_122510) – Việt Nam bây giờ ngang bằng với Mông Cổ và Bangladesh về uy tín tài chánh quốc tế; tiền bảo hiểm nợ tài chánh sẽ tăng thêm 3.05% mỗi năm vì bảo hiểm nợ (eg. Phố Wall cho mượn 8%/năm). Nếu họ liều cho Việt Nam mượn thay vì cho mượn 186 quốc gia khác cũng hết sức muốn vay vốn  thì tất cả Công ty Việt Nam sẽ  phải trả lãi vay ít nhất 11.05%/năm. Với số nợ 600 triệu usd của Vinashin vay này, Credit Suises phải trả thêm 18 triệu 300 ngàn usd bảo hiểm nợ và họ sẽ đòi VN lại, rất có khả năng họ đòi hết 600 triệu 1 lần luôn, nếu như phía Việt Nam không giải trình các biện pháp thanh toán nợ một cách có khả thi.

Cả thị trường tài chánh thế giới shock mạnh khi biết VN không trả đúng hạn số tiền 60 triệu usd của Vinashin vay. Thông tin lan truyền trên thế giới bởi ccs tổ chức đánh giá tín dụng quốc tế như Bloomberg, Moody, Standard and Poor’s. Tất cả công ty tài chánh trên thế giới đều biết rõ và theo dõi tin trên một cách sát sao xem phản ứng của phía Việt nam sẽ ra sao, ngay cả GS Carl Thayer một chuyên gia nổi tiếng về Việt Nam còn ngạc nhiên, ông Carl Thayre nói rằng đây là một cú đòn mạnh làm thiệt hại đến uy tín và danh dự của Thủ tướng  Dũng rất sâu sắc. (Đọc tiếp…)

Bình luận nhanh của Hai Xe Ôm:

Lạm phát cao không phải do quản lý tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước do Ngài Nguyễn Văn Giàu đứng đầu mà có khi do: các thế lực thù địch,do đám chợ đen trong đó có cả đám xe ôm cũng nên; có khi còn do cái sự quấy nhiễu của cáo ông gì ở chốn…cao xanh?! Hu…hu…hu…
Thưa Ngài Nguyễn Văn Giàu, lạm phát diễn giải một cách nôm na là: nhu cầu chi cao hơn so với khả năng kiếm ra được tiền; cái tình trạng này thường xảy ra khi mà chủ nhân của cái guồng quay tiền- hàng này yếu, lập bập, bóc ngắn cắn dài; ăn bữa hôm không lo nổi bữa mai… Chính cái sự không kiểm soát, vận hành được cái guồng quay đó một cách căn cơ,cho nó thông đồng bén giọt nên mới sử dụng đến miếng võ in thêm tiền ra để mà chi, để cứu nguy trước mắt ? Đó chính là nguyên nhân dẫn tới lạm phát. Một kẻ “u tì quốc” về tiền tệ cũng đủ khả năng bóc mẽ ra cái trò “cờ gian bạc bịp” của ông.
Tôi đồng ý với ông: Lạm phát cao hiện nay không do quản lý tiền tệ trực tiếp gây ra mà do quản lý điều hành kinh tế của Chính phủ, ông là một thành viên góp phần vào trong đó. Ông phải minh bạch điều đó chứ không được phép chạy làng trách nhiệm.
Dưới góc độ quản lý tiền tệ tại sao ông không tham mưu cho Chính phủ cần siết chặt các khoản chi tiêu, tích cực chống tham nhũng, chi tiêu lãng phí; loại bỏ việc đầu tư tiền vào các dự an giời ơi, kiểu như Vinashin…Chính hệ thống Ngân hàng các ông thẩm định các dự án vay vốn để rồi đẩy Vinashin hiện nay trở thành Chúa Chổm chứ ai? Các ông không biết trước hệ lụy mà Vinashin phải gánh hay các ông cố tình ?
Hiện nay, vốn liếng của nền kinh tế quốc dân đến trên 40 % nằm trong tay các tập đoàn kinh tế nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước? Đố bảo một doanh nghiệp tư nhân nào mà khả năng chỉ làm ra 1 đồng nhưng lại vung tay chi 2 đồng? Nếu có loại doanh nghiệp tư nhân đó thì cũng chỉ lừa được một lần rồi sập tiệm. Ai cho vay tiền mà vung tay quá trán…Lạm phát hiện nay về bản chất: do các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước, dùng quyền lực nhà nước, dùng phạm vi ảnh hưởng và cái thế của ông nọ, bà kia mà móc tiền nhà nước ra chi tiêu vô tội vã nên mới dẫn tới rối loạn thì trường, lạm phát cao, đồng tiến mất giá, giá cả leo thang?
Ai in tiền ra ? Đám xe ôm chăng ? Ai để cho nền kinh tế không vận hành theo đúng quy luật cung cầu của kinh tế thị trường? Ai để cho cái thực trạng quản lý tiền- hàng theo kiểu: mạnh thằng nào thằng ấy xơi, thằng ấy chụp giật, thằng ấy chia thưởng, thằng ấy được vay vốn, cấp đất để chụp cơ hội đầu tư? ! Thống đốc khẳng định đã điều hành tiền tệ đúng với trách nhiệm được giao ? Lỗi không của ông thì của ai ? Sao ông không chỉ ra để mà trị, mà khắc phục !
Ngài Nguyễn Văn Giàu không chịu nhận lỗi về mình, việc này có khác chi kẻ chuyên nghề cờ gian bạc bịp; tất nhiên nạn nhân cuối cùng vẫn là những ông nhà quê, những người nhẹ dạ cả tin
Thưa với ông Nguyễn Văn Giàu,
Dù nền kinh tế có như thế nào; Dù có lạm phát và giá cả leo thang đến đâu thì ông vẫn là ông Nguyễn Văn Giàu; ông không bao giờ là ông Nguyễn Văn Nghèo nên ông muốn nói kiểu gì, muốn phát kiểu gì mà chẳng được ?!

H.X.Ô.
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định đã điều hành tiền tệ đúng với trách nhiệm được giao. Ảnh: Nhật Minh

Thống đốc khẳng định đã điều hành tiền tệ đúng với trách nhiệm được giao. Ảnh: Nhật Minh

Giải trình trước Ủy ban Kinh tế và Thường trực Quốc hội sáng nay, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thừa nhận những căng thẳng về lãi suất thời gian qua đã ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống kinh tế. Tuy vậy, không ít diễn biến lại nằm ngoài tầm với của chính sách kinh tế.
(Đọc tiếp…)

Ảnh TTXVN
Riêng đối với một số ý kiến mang động cơ xấu, lợi dụng việc góp ý để hoạt động chống đối, phá hoại !

Lời bình của Blog Phamvietdaonv: Lời tuyên bố cứng rắn trên trong Diễn văn bế mạc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vừa mang tính răn đe, vừa mang tính dọa nạt đối với những kẻ mang động cơ xấu, lợi dụng việc góp ý xây dựng để hoạt động chống đối…Qua tuyên bố này chứng tỏ BCHTW Đảng kiên quyết giữ vững lập trường đã lựa chọn. Do vậy, những ai mong muốn góp ý với Đảng thì phải hết sức cẩn thận, vừa để tránh khỏi bị mất thì giờ mà có khi còn bị hiểu nhầm là có động cơ xấu mà oan gia !
Có nên phân biệt đối sách:Những ý kiến nếu đúng là của các thế lực thù địch đến từ Mỹ, từ Tàu thì phải răn đe, dọa nạt; chỉ có điều nếu ý kiến đó bản chất vẫn là của đồng chí mình, song vì một động cơ nào nào mà bị xếp vào diện phải răn đe, dọa nạt thì hơi bị nặng nề !
Nghiên cứu kỹ bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại Hội nghị lần thứ 14 BCHTW Đảng kỳ này thấy khác mọi kỳ họp khác; các kỳ họp khác thường được khóa kết bằng nhận định: Hội nghị thành công tốt đẹp; còn lần này câu khóa kết có khác hơn, đó là:”Sau 10 ngày làm việc tích cực, khẩn trương, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã hoàn thành chương trình đề ra ?”
Người đọc cảm thấy băn khoăn: hoàn thành chương trình đề ra nhưng chắc còn có chuyện này, chuyện kia chưa mỹ mãn lắm thành ra không được khóa bằng cụm từ thông dụng trên ?
Hàng năm, các đảng viên tại các chi bộ thường được bình xét thi đua và xếp loại đảng viên vào 3 danh hiệu: Hoàn thành nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ…Như vậy căn cứ vào câu khóa kết của TBT trong diễn văn bế mạc ngày 22/12/2010 thì chất lượng của Hội nghị Trung ương 14 vừa rồi sắp xếp vấn đề nhân sự Đại hội Đảng XI chỉ có thể được xếp ở mức loại đầu tiên: Hoàn thành nhiệm vụ nhưng chưa Tốt !
Một vấn đề đáng lưu ý: các báo như Nhân Dân, Vietnamnet, Báo điện tử ĐCSVN và nhiều báo khác đều đăng nguyên văn Diễn văn phát biểu bế mạc của TBT Nông Đức Mạnh theo bản tin TTXVN; riêng báo Công an nhân dân điện tử lại không đăng nguyên văn mà lại lược đăng. Theo dõi bài lược đăng trên CAND không thấy có đoạn:”Riêng đối với một số ý kiến mang động cơ xấu, lợi dụng việc góp ý để hoạt động chống đối, phá hoại, Ban Chấp hành Trung ương bày tỏ thái độ kiên quyết phê phán và dứt khoát bác bỏ…” Báo CAND không đưa đoạn này vì nhạy cảm chăng ? ( ** )
Thưa các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, 

Thưa các đồng chí dự Hội nghị,

Sau 10 ngày làm việc tích cực, khẩn trương, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã hoàn thành chương trình đề ra.

Với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị đã thảo luận, xem xét tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp, của đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, của cán bộ, đảng viên và nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài đóng góp vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Các ý kiến đóng góp lần này rất phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực với các phạm vi, nội dung và tầm mức khác nhau, nhưng nhìn chung đều rất tâm huyết, phản ảnh chân thực những suy nghĩ, trăn trở, tìm tòi trước thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước trong điều kiện mới, thể hiện trách nhiệm với Đảng, với dân tộc, mong muốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đất nước ta ngày càng phát triển nhanh, bền vững. Ban Chấp hành Trung ương bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn các ý kiến tâm huyết, trí tuệ và tinh thần xây dựng chân thành, xin tiếp thu tối đa những ý kiến hợp lý, xác đáng để bổ sung, hoàn chỉnh các dự thảo văn kiện, đồng thời để chỉ đạo trong hoạt động thực tiễn. Đối với một số vấn đề phức tạp, đã trao đổi, thảo luận nhiều, nhưng vẫn còn ý kiến khác nhau, chưa đủ cơ sở để kết luận, Hội nghị chúng ta nhất trí ghi nhận và đề nghị được tiếp tục nghiên cứu sau Đại hội. Riêng đối với một số ý kiến mang động cơ xấu, lợi dụng việc góp ý để hoạt động chống đối, phá hoại, Ban Chấp hành Trung ương bày tỏ thái độ kiên quyết phê phán và dứt khoát bác bỏ.

Tại Hội nghị này, chúng ta đã tiếp thu nhiều ý kiến bổ sung làm rõ và sâu sắc thêm về đánh giá tình hình đất nước sau 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng; ưu, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; các bài học kinh nghiệm; bối cảnh tình hình đất nước hiện nay và những vấn đề mới đặt ra cần giải quyết; điều chỉnh một số điểm trong mục tiêu, nhiệm vụ và các chính sách, giải pháp chính, nhất là trên lĩnh vực xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xây dựng nông thôn mới; coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu v.v… nhằm đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững. Về công tác xây dựng Đảng, các ý kiến tiếp thu lần này tập trung chủ yếu vào việc quán triệt và tăng cường xây dựng mối quan hệ giữa nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đồng thời quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo của Đảng cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới; tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp thiết thực và có hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Cùng với việc tiếp thu nhiều ý kiến hợp lý, xác đáng, Trung ương cũng đã điều chỉnh việc diễn đạt các khái niệm và sử dụng từ ngữ trong các văn kiện cho chính xác hơn. Với những điểm bổ sung, sửa chữa lần này, các dự thảo văn kiện được hoàn chỉnh, thực sự là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta.

Thưa các đồng chí,

Với tinh thần dân chủ, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Hội nghị Trung ương đã thảo luận sôi nổi, góp ý kiến thẳng thắn, sâu sắc và thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X trình Đại hội XI và Báo cáo tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá X.

Về giới thiệu nhân sự ứng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, Hội nghị lần này đã xem xét, cân nhắc, lựa chọn, bổ sung vào kết quả có được tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, nhất trí thông qua danh sách để giới thiệu với Đại hội lần thứ XI của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương cũng đã quyết định thời gian họp Đại hội, thông qua dự kiến Chương trình và Quy chế làm việc của Đại hội để trình Đại hội XI quyết định.

Với những kết quả đạt được của Hội nghị Trung ương lần này, Ban Chấp hành Trung ương đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, giữ vững nguyên tắc, hoàn thành cơ bản chương trình toàn khoá và chuẩn bị chu đáo cho Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhiệm kỳ XI theo quy định của Điều lệ Đảng.

Thưa các đồng chí,

Từ nay đến ngày khai mạc Đại hội XI của Đảng thời gian còn rất ít. Chúng ta đang đứng trước thềm năm mới 2011 và chuẩn bị đón tết Nguyên đán Tân Mão. Công việc rất nhiều và dồn dập. Chúng ta phải khẩn trương, tích cực chuẩn bị về mọi mặt để bảo đảm cho thành công của Đại hội Đảng, đồng thời phải hoàn tất công việc cuối năm và triển khai nhiệm vụ, kế hoạch năm 2011; tập trung cao độ khắc phục cho được những khó khăn trước mắt, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, chăm lo thiết thực đời sống nhân dân, nhất là ở các vùng khó khăn, thiên tai, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, tin tưởng, nỗ lực thi đua lập thành tích thiết thực mừng Đảng, mừng Xuân.

Tôi mong muốn và tin tưởng rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Trung ương, các đồng chí chủ trì cơ quan, đơn vị và các địa phương, hơn bao giờ hết, nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu, tổ chức làm việc khoa học, sáng tạo, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, hoàn thành tốt nhất cương vị, nhiệm vụ được giao, mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của dân, của Đảng.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, giành được nhiều thắng lợi trong năm mới 2011 – Một năm có nhiều sự kiện quan trọng và nhiều hứa hẹn tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.

Thưa các đồng chí,

Hôm nay là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ngày Hội quốc phòng toàn dân. Ban Chấp hành Trung ương xin gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng dân quân tự vệ cả nước. Chúc Quân đội ta không ngừng phát triển, tiến lên theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, mãi mãi xứng đáng là quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

Xin cảm ơn.

(*) Đầu đề là của Blog Phamvietdaonv;
( * * ) http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisu/2010/12/141895.cand

Bình luận của Hai Xe Ôm.
Theo tin các báo đã đưa: Hội nghị Trung ương lần thứ 14, hội nghị bàn về chủ yếu về công tác nhân sự Đại hội Đảng lần thứ XII sẽ kết thúc vào ngày 21/12/2010. Thế nhưng đến giờ phút này, theo dõi chương trình Thời sự của Đài truyền hình Việt Nam tối nay, ngày 21/12 thì chưa thấy Tivi đưa hội nghị kết thúc, bế mạc…
Cách đây mấy hôm, BBC đã dẫn nguồn tin từ Nhật Bản cho hay: Nhân sự Đại hội Đảng lần thứ XII đã cơ bản quyết định nhân sự “ Tứ trụ triều đình “: ông Nguyễn Phú Trọng sẽ đảm nhận chức vụ Tổng Bí thư, ông Trương Tấn Sang sẽ đảm nhận chức vụ Chủ tịch nước, ông Nguyễn Tấn Dũng tại vị cương vị Thủ tướng, ông Phạm Quang Nghị đảm nhận chức vụ Chủ tịch Quốc hội…
Theo như tin đồn của dân quan sát chính trường vỉa hè Hà Thành thì, đây là kết quả thăm dò trong nội bộ Bộ Chính trị; Song vấn đề nhân sự chủ chốt của Đảng còn phải qua khâu quan trọng, đó là ý kiến của Ban chấp hành trung ương? Như vậy hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 14 chắc chắn sẽ bàn thảo kỹ càng, dân chủ và chắc sẽ rất căng về vấn đề quan trọng này…
Theo tin vỉa hè thì có một vài vị không được tín nhiệm cao khi lấy ý kiến trong Bộ Chính trị nhưng lại cao phiếu khi đưa ra thăm dò tại Ban chấp hành trung ương? Không biết tin này thực hay hư đến mức độ nào và sau cái thông tin này là vấn đề dân chủ trong nội bộ Đảng sẽ đạt đến đâu…

Quan sát chính trường trong những ngày này, dư luận chính trường vỉa hè vẫn có thói quen; xem nhạc hiệu đoán chính trường; tức là xem động thái chính trường qua cái Tivi nhà thì rất chú ý tới lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam được tổ chức trọng thể tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại cuộc miting này, chỉ thấy mỗi Uỷ viên Bộ Chính trị – Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Trương Tấn Sang đã tới tham dự buổi lễ và phát biểu ý kiến. Còn Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã gửi lẵng hoa chúc mừng lễ kỷ niệm này. Ông Lê Thanh Hải, Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cũng không có mặt. Điều này chứng tỏ các vị này đang lo chuyện nhân sự cho Đại hội Đảng lần thứ XII, không thể rời lơi lỏng một giây, một phút.
Còn vị trí Chủ tịch nước của ông Trương Tấn Sang theo như phương tây bình luận là một vị trí ít thực quyền nên ít phải tranh đua, do vậy nên ông Trương Tấn Sang yên chí lớn rời Hà Nội bay vào thành phố Hồ Chí Minh mà không phải lo lắng gì.
Một động thái thứ 2 đó là qua Tivi thấy buổi tiếp kiến Đại sứ Thái Lan đến chào từ biệt của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; thấy ông Nguyễn Tấn Dũng cười rất tươi, thấn sắc rất sáng; khác với hôm thần sắc xuống mã, ăn nói cà lăm: cứng ngoài rung trong tại phiên chất vấn của Quốc hội về vụ Vinashin? Ông Dũng đang có điều gì đắc ý chăng ?
Việc hội nghị lần thứ 14 của Ban chấp hành trung ương Đảng không bế mạc đúng “phút 90 “, tức vào ngày 21/12 theo như lịch đã công bố; việc kéo dài thêm “hiệp phụ” này chắc vì hiệp chính chưa ngã ngũ thống nhất được tỷ số nên phải kéo dài thêm chăng ? Có nghĩa là đang  “ bancăng “ cũng nên /!
Vỉa hè đang nóng chuyện chính trường !
H.X.Ô

https://i1.wp.com/upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fa/Carte_du_Tong-king_1879.JPG/300px-Carte_du_Tong-king_1879.JPG
Theo: ThongtinBerlin

Trung Quốc đang mở chiến dịch tháo dỡ toàn bộ các cột mốc bên giới cũ theo Hiệp định Pháp – Thanh năm 1887, hiện nay đang nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc, chiến dịch này đã được chính quyền Trung Quốc phát động vào ngày 20/07/2010.
Hàng loạt những cột mốc lịch sử quốc giới Việt – Trung có từ hàng trăm năm nay đã bị chính quyền Trung Quốc tất bật tháo gỡ đưa vào các bảo tàng lịch sử địa phương mà họ gọi là chiến dịch “bài trừ các mốc biên giới cũ”.

Mốc số 17 (đoạn Vân Nam-Hà Khẩu)



Cột mốc “Đại Nam Quốc Giới” tại Phòng Thành, Quảng Tây



Khuân vác dời cột mốc quốc giới Viêt Nam- Trung Quôc đem về bảo tàng

Phạm Viết Đào.

Mời quý vị tham khảo thêm (sẽ đăng cuối bài ):
THƯ CỦA NHÀ VĂN HÀ ĐÌNH CẨN-PTBT TẠP CHÍ HỒN VIỆT  GỬI TRANNHUONG.COM VỀ VỤ ÔNG ĐÀO DUY QUÁT ĐĂNG TIN TRUNG QUỐC TẬP TRẬN TRÊN BIỂN ĐÔNG.
Nhìn cung cách triển khai, cách đưa bài vở của Hồn Việt, nếu tinh ý sẽ thấy đây là một tờ báo có quan điểm chính trị “ ngụy hồn Việt ”; Cách làm của HV rất giống cung cách làm ăn của cái đám dân mở hiệu cầm đồ, một ả hàng ngày vẫn bô bô với chồng rằng: mình chính chuyên lắm, chỉ có điều thỉnh thoảng mới lại lén mở cửa mời ông Tây, ông Tàu lên giường… (Đọc tiếp…)
Phạm Viết Đào.
Hiện nay các hiệu cầm đồ phi pháp muốn có lãi cao thì phải cầm cả những đồ gian, đồ chưa rõ nguồn gốc và phần lớn là hàng ăn cắp, nhập lậu, trốn thuế…Do vì những loại hàng này kẻ mang đi cầm thường phải chấp nhận một khoản cầm rẻ mạt, thậm chí tượng trưng và khi kẻ cầm đã tìm cách “ bỏ của chạy lấy người “ thì chủ hiệu có thể tìm cách tẩu tán, bán thu lại vốn và thường là lãi to…. (Đọc tiếp…)

Blog Phamvietdaonv: Mỗi tờ báo bằng bất cứ thứ tiếng gì cũng đều hiển nhiên là một cơ quan ngôn luận, là tiếng nói, chính kiến chính trị của một cá nhân, nếu là báo tư nhân, của một tập đoàn, của một tổ chức, của một chính đảng chính trị hoặc của một chính phủ…Do vậy, cho  dù một tờ báo vẫn tự coi là dân chủ và trung lập nhất ở góc trời nào đó, chấp nhận thông tin đa chiều thì cũng không bao giờ thoát ra khỏi cái “ vòng kim cô “ của cái định hướng chính trị của chủ tờ báo đó…

Khi đọc bài viết sau đây xuất hiện trên Tạp chí Hồn Việt:”Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 “ ( NĐTMT…) người đọc thử hình dung và phân tích, đoán định giùm xem: thái độ chính trị của Hồn Việt là gì vậy khi đăng bài viết này ?
Một tờ báo có thể đưa những thông tin, những bài viết trái với quan điểm chính trị chính thống của tờ báo đó, của những ông chủ báo; thường khi đăng những bài như vậy, bao giờ Ban biên tập cũng ghi rõ: Đây là quan điểm của tác giả bài viết chứ không phải của bản báo; hoặc đồng thời với việc đăng bài bao giờ cũng chú thích thêm chính kiến của mình: đồng tình hay không tán thành những thông tin trên bài báo đó nhưng vẫn cho đăng. (Đọc tiếp…)

– Vì tính thời sự của vấn đề bô-xit, Bài 3 : TẠP CHÍ HỒN VIỆT QUẢNG CÁO CHO DỰ ÁN BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN trong loạt bài: TẠP CHÍ HỒN VIỆT ĐANG BIẾN MÌNH THÀNH “ HỒN TÀU “ TỪ BAO GIỜ sẽ được đưa xuống phần II để ưu tiên đưa bài vừa xuất hiện trên báo Văn Nghệ lên thành Phần I:


Phần I: BÁO VĂN NGHỆ- HỘI NHÀ VĂN VN SỐ 45 RA NGÀY 6/11/2010 ĐĂNG BÀI ĐỀ NGHỊ DỪNG DỰ ÁN BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN:

BÔ XÍT – NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC VÀ MẤT
VN: Tạm dừng dự án bô xít như kiến nghị của đại đa số nhân dân, có thể sẽ là giải pháp không mấy dễ chịu. Sẽ có nhiều thiệt hại, mất mát. Tuy nhiên nếu biết coi những mất mát đó là những bài học kinh nghiệm trước ngưỡng cửa của hội nhập thì chúng ta sẽ không chỉ sẽ giữ được tài nguyên cho đất nước, mà thêm vào đó lại được rất nhiều. Được sự từng trải, được cách tư duy, được sự minh bạch, được cách ứng xử… Và cái được lớn hơn tất cả chính là được lòng tin của nhân dân, điều mà bất kỳ người lãnh đạo nào cũng cần phải có… (Đọc tiếp…)

MỘT SỐ CỬ TRI ĐÃ NHỜ BLOG PHAMVIETDAONV CHUYỂN TỚI DIỄN ĐÀN QUỐC HỘI MỘT SỐ CÂU HỎI CHẤT VẤN SAU ĐÂY VỀ VỤ VINASHIN:

1.Việc phân bổ các nguồn vốn ngân sách( kể cả vốn vay nước ngoài , vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA…) cho các Tập đoàn vay hoặc cấp hàng năm đều phải được Quốc hội phê chuẩn. Việc để cho Vinashin vay 86 nghìn tỉ đồng ( hay trên 100 nghìn tỉ đồng?)  trong có mấy năm, tiêu pha bừa bãi ( và không thể không có tham nhũng ở đây ), không trả được nợ làm cho toàn dân phải gánh chịu hậu quả, trách nhiệm của Quốc hội đến đâu? Ai là người ký phê chuẩn từng khoản vay đó?  Đề nghị nêu đích danh từng người ký duyệt từng khoản vay ( chủ tịch QH hay Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ GTVT, Thống đốc Ngân hàng.. ) để cử tri được biết.

2.Qui trình thông thường để giải ngân cho từng dự án do Bộ Tài chính và Ngân hàng qui định là rất chặt chẽ. Đề nghị Bộ tài chính, Thống đốc Ngân hàng cho biết qui trình giải ngân cho các khoản vay của Vinashin vừa qua có gì đặc biệt không? Ai duyệt qui trình đó? Ai ký duyệt từng hồ sơ giải ngân của Vinashin? Trước khi giải ngân, từng ngân hàng phải giám định, sau khi giải ngân phải kiểm tra thực hiện, đích danh ai là người đã thực hiện cho từng khoản vay này( danh sách )?

3.Dư luận trong nhân dân mấy năm qua xì xào về chuyện các nhà thầu nhận thi công dự án của Vinashin phải nộp lại chủ đầu tư tới 40% giá trị hợp đồng. Bộ trưởng Bộ GTVT, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng Thanh tra Chính phủ, Thủ tướng có biết việc này không?

4.Luật Đấu thầu qui định các gói thầu lớn đều phải được Thủ tướng và Bộ Kế hoạch Đầu tư phê duyệt ( Điều 60,67,68 Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2005) . Ai là người phê duyệt các gói thầu mua tàu cũ và thiết bị của Vinashin ( Đề nghị Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết danh sách cụ thể )?  Trách nhiệm của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư đến đâu?

Xin thay mặt các cử tri đặt câu hỏi trân trọng cảm ơn Quốc hội.

ĐỌC LƯU Á CHÂU ĐỂ HIỂU THÊM MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ TRUNG QUỐC
( Đăng nguyên văn phần còn lại của bài đã đăng trên Tạp chí Hồn Việt số tháng 11/2010 )
Người dịch: VŨ HỒNG NGỰ
Lưu Á Châu là Trung tướng Không quân của Trung Quốc, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Tại căn cứ Không quân Côn Minh – Vân Nam, Lưu Á Châu đã có một bài phát biểu có nhiều điểm làm cho người ta chú ý. Đọc bài phát biểu đó, chúng ta có thể nhận thức sâu thêm, hiểu kỹ hơn một vài vấn đề lâu nay chúng ta vẫn để tâm tìm hiểu và hiểu cái “cách” của Trung Quốc ứng xử với thế giới hiện đại.
CUỘC CHIẾN VIỆT NAM 1979
Vì sao Trung Quốc đánh Việt Nam năm 1979? (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: phamvietdaonv | 09.11.2010

XIN ĐỪNG LÀM TOÁN VỚI NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG

Chuyện về căn hộ mới của GS Ngô Bảo Châu
Một số báo đưa tin Chính phủ tặng GS Châu một căn hộ chung cư tại tòa tháp Vincom B và dường như cứ nhấn mạnh đến trị giá của căn hộ này… Xin đừng “làm toán” với những tài năng của những nhân tài như GS Ngô Bảo Châu. Xin đừng “làm toán” với những tấm lòng vàng, với sự yêu quý và trân trọng mà Chính phủ, nhân dân và Tổ quốc dành cho những “nguyên khí quốc gia” như GS Ngô Bảo Châu.

Ngày 19/8/2010, Giáo sư (GS) Ngô Bảo Châu chính thức nhận giải thưởng danh giá nhất thế giới về toán học – Giải FIELDS. Khi biết tin vui này, với sự ngưỡng mộ Giáo sư, rất nhiều cá nhân trong và ngoài nước đã bày tỏ nguyện vọng muốn trao tặng GS những món quà quý giá, như một sự động viên trước một tài năng trẻ đã đem vinh dự lớn lao về cho nền toán học nói riêng và nền khoa học cơ bản Việt Nam nói chung. Đặc biệt, từ Quảng Ninh, doanh nhân Đào Hồng Tuyển đã đưa ra  ý định tặng GS Ngô Bảo Châu một biệt thự tuyệt đẹp tại Đảo Tuần Châu bên bờ biển Hạ Long quanh năm sóng vỗ để GS và gia đình có điều kiện nghỉ dưỡng tốt hơn. (Đọc tiếp…)

Blog Phamvietdaonv: Tạp chí Hồn Việt số tháng 11/2010, chủ quản Hội Nhà văn Việt Nam, do GS-TS Mai Quốc Liên, Ủy viên Hội đồng lý luận trung ương, Ủy viên Hội đồng lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam làm Tổng Biên tập vừa cho in bài: Đọc Lưu Á Châu để hiểu thêm một vài vấn đề về Trung Quốc. Phần I có tiêu đề: Cuộc chiến Việt Nam 1979… Đọc xong bài viết, Chủ Blog thấy bàng hoàng, đau đớn trước thái độ vô cảm, vô luân của Tạp chí Hồn Việt, dám công khai đăng bài viết của Lưu Á Châu chà đạp thô bạo một sự thật lịch sử, đứng ra thanh minh, biện hộ cho hành động ăn cướp, du côn của Đặng Tiểu Bình và quân Trung Quốc xâm lược.
Năm 1979, chính Đặng Tiểu Bình là kẻ đã phát động một cuộc chiến tranh xâm lược 6 tỉnh biên giới của Việt Nam, giết hại hàng vạn đồng báo chiến sĩ của ta, cướp rất nhiều vùng lãnh thổ của Việt Nam. Cuộc chiến tranh biên giới này đã kéo dài gần 10 năm khiến cho bao máu xương của đồng bào chiến sĩ ta đã đổ, bao đất đai đã bị Trung Quốc cướp… (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: phamvietdaonv | 06.11.2010

Bí mật khu rừng cổ nhất thế giới ở Việt Nam

Nhiều người gọi Ea Ral (huyện Ea Hleo, tỉnh Đắk Lắk) là khu rừng cổ nhất thế giới bởi đây là nơi duy nhất trên trái đất còn sót lại một quần thể thuỷ tùng (hay còn được gọi là thông nước) với khối lượng lớn, tới 270 cây.

Tôi có thói quen vào Google tìm thông tin trước mỗi chuyến công tác ở một địa danh mới. Cũng vì lẽ đó mà trước khi đặt chân đến nơi được coi là thủ phủ của cà phê VN tôi biết tại đây đang tồn tại loài cổ thực vật đặc biệt quý hiếm không chỉ với VN mà cả thế giới: Thuỷ tùng ! 

Thú thực chưa biết gỗ thuỷ tùng như thế nào nhưng khi nhìn những chiếc lọ lục bình bày kín trong phòng ở một cửa hàng tại thị xã Buôn Hồ, ai trong chúng tôi cũng phải trầm trồ bởi vân của chúng tựa như bức tranh thuỷ mặc, không chiếc nào giống nhau về hoa văn và màu sắc. Chủ nhà phân loại cho chúng tôi: Tùy theo độ tuổi mà thủy tùng có vân gỗ và màu gỗ khác nhau. Phần lớn gỗ thuỷ tùng hiện nay là do đi “mót” ở dưới các hồ, nương, rẫy nên đối với thủy tùng cổ thụ, ngâm dưới đất, nước lâu sẽ có màu đen gụ, trung bình thì có màu vân xanh đen, đây là màu đặc trưng và đẹp nhất của gỗ thuỷ tùng, loại mới khai thác thì có màu nâu đỏ… Đặc trưng của gỗ thủy tùng là có mùi thơm hắc, gỗ mềm, dẻo, rất bền, không bị mối mọt, cong vênh…

Bí mật khu rừng cổ nhất thế giới ở Việt Nam

Tôi quay sang một cặp lục bình cao khoảng 50cm hỏi giá. Chủ nhà liền vỗ vai tôi bảo: Bác tinh thật đấy, đây là cặp lục bình không có chút tì vết, hoàn hảo, em làm định để chơi, nhưng bác thích em sẽ để cho bác giá đúng 5 triệu đồng…

Khu rừng cổ nhất thế giới

Nếu như coi thuỷ tùng là loại cổ thực vật lâu đời nhất thế giới còn tồn tại thì cũng có thể ví quần thể thuỷ tùng tại Ea Ral là khu rừng cổ nhất thế giới. Do nằm giữa khu hồ sình lầy và được bảo vệ bởi hàng rào dây thép gai nên chúng tôi không thể lại gần nhưng quan sát từ xa phần ngọn của hầu hết các cây thuỷ tùng đã có dẫu hiệu cằn cỗi. Ngay phía mé hồ, một ngôi nhà được xây dựng khá kiên cố bên trên treo tấm biển: “Trạm quản lý bảo vệ thuỷ tùng Ea Ral”. Trạm này có 6 kiểm lâm viên thuộc biên chế Hạt kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk được điều về đây để cắm chốt 24/24 tính ra mỗi người phải canh hơn 4 chục gốc cây.

Hồ Ea Ral gọi là “nghĩa địa” thủy tùng cũng đúng mà gọi là thủ phủ thuỷ tùng cũng có lý bởi ngoài quần thể hơn 270 cây thuỷ tùng còn sót lại phía dưới lòng hồ còn rất nhiều thân gỗ, gốc thủy tùng… Những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước, cả khu vực hồ Ea Ral hiện nay bạt ngàn thuỷ tùng. Khi Nhà nước có chủ trương phát triển cây cà phê trên mảnh đất này và quy hoạch khu vực Ea Ral làm hồ chứa nước phục vụ tưới tiêu người dân còn được huy động đi đốn thuỷ tùng để làm đập ngăn hồ chứa nước. Cây nào to thì họ lấy về làm cột nhà, cọc trồng tiêu, dựng chuồng bò, lán canh, cây bé, cành nhỏ thì làm củi đun…

Long đong số phận thủy tùng

Tại Hạt kiểm lâm Ea Hleo, ông Phạm Quang Vinh, Hạt trưởng cho biết: Gỗ thuỷ tùng chỉ thực sự “sốt” trong thời gian vài năm gần đây, nhất là sau khi có một chương trình trên truyền hình đưa thông tin cây thủy tùng có thể chiết xuất được chất chữa ung thư. Các đại gia từ Sài Gòn về Ea HLeo săn khiến cả Ea HLeo nóng lên vì cơn sốt gỗ thủy tùng. Một khúc gỗ thủy tùng rộng chừng 40 cm, cao chừng một mét, giá 12 triệu đồng. Từ đầu năm 2009 tới nay, kiểm lâm huyện Ea HLeo đã bắt được 15 vụ khai thác, vận chuyển gỗ thủy tùng trái phép. Những kẻ vi phạm pháp luật bảo vệ các loại gỗ thuộc nhóm này, theo luật, phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cái khó nhất là Việt Nam chưa có hội đồng thẩm định giá đối với thủy tùng, vì chưa bao giờ nó là… hàng hóa ngoài thị trường. Từ khi Chi cục kiểm lâm Đắk Lắk đề nghị lấy mức giá cao nhất của nhóm gỗ 2A áp giá cho thủy tùng, mới có cơ sở để xử lý. Một số vụ việc phát hiện, bắt giữ, giá trị kinh tế của tang vật thu được ở mức trên dưới 1 triệu đồng chỉ có thể xử phạt hành chính, cảnh cáo người vi phạm.

Được biết, đầu tháng 8/2009, Hạt kiểm lâm huyện đã có tờ trình gửi Chi cục kiểm lâm Đắk Lắk về việc xin thành lập khu bảo tồn sinh cảnh Ea Ral để mở rộng khu bảo tồn quần thể thủy tùng để từ đó có định hướng bảo vệ về lâu dài. Theo dự kiến sẽ có một con đường chạy vòng quanh khu quần thể thuỷ tùng để tiện cho việc tuần tra bảo vệ, phía bên ngoài sẽ thiết lập hàng rào dây thép gai. Thế nhưng: “Khu thủy tùng Ea Ral được UBND tỉnh Đắk Lắk quy hoạch là rừng đặc dụng từ năm 1987. Tuy nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh Ea Ral lại chưa có quyết định thành lập chính thức. Do đó rất khó khăn về mặt pháp lý để có thể xây dựng các đề án bảo vệ thủy tùng!” – ông Vinh chia sẻ.

Mang theo trăn trở của ông Vinh, về đến Hà Nội, tôi bật máy tính, vào google, gõ từ khoá “thuỷ tùng” chỉ trong nháy mắt đã hiện ra hơn 4 triệu kết quả có liên quan, trong đó có rất nhiều kết quả liên quan đến việc rao bán các sản phẩm làm từ gỗ thuỷ tùng. Chợt nghĩ trong khi chờ đợi một quyết sách cụ thể cho “thuỷ tùng” thì số phận của loài thực vật cổ nhất thế giới này vẫn đang bị rình rập và hình ảnh ông Vinh ví von: mỗi người ôm một gốc cây cũng khó bảo vệ được quả có lý.

Thuỷ tùng có tên trong sách đỏ VN và theo công bố của Quỹ sinh vật hoang dã thế giới (WWF), đây là một trong những loài bị săn lùng ráo riết nhất. Thuỷ tùng thuộc danh mục gỗ nhóm IA: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, đang có nguy cơ tuyệt chủng cao. Hoá thạch cổ nhất biết đến là vào kỷ Creta. Vào trước và trong thời kỳ Băng hà, mật độ phân bố của chúng đã thay đổi, chỉ còn lại như ngày nay. Thủy tùng được phát hiện lần đầu tiên tại Đắk Lắk vào năm 1955. Trên thế giới duy nhất chỉ còn sót ở địa bàn tỉnh Đắk Lắk tại hai khu vực là Trấp Ksơr (xã Ea Hồ, huyện Krông Năng) với số lượng 28 cây và khu vực hồ Ea Ral (huyện Ea Hleo).

————————-
Đăng bỡi Tranhung09

 


Xem thêm:
Thông nước
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

( Nguồn: Tranhung09 )

vụ
,                                      Nguyễn Mạnh Quân.         Nguyễn Thành Liêm
Phạm Viết Đào.
-Ông Nguyễn Thành Liêm nhầm hay Vietnamnet viết sai: Nhầm alumina nguyên liệu sản xuất nhôm thành uranium-nguyên liệu làm bom nguyên tử trong bài đối thoại trên Vietnamnet ?
-Giá bán alumina trong năm 2010 là: 235 USD/tấn hay 315 USD/tấn ? Hai số liệu đều do ông Nguyễn Thành Liêm cung cấp tại 2 diễn đàn cách nhau 1 ngày ?
– Giá thành sản xuất của alumina do ông Nguyễn Thành Liêm tính toán theo kiểu cua trong lỗ là 265 USD/tấn; giá bán theo ông Liêm nói lúc thì 235 USD/tấn khi thì nói là 315 USD/tấn trong năm 2010; còn ông Nguyễn Mạnh Quân lại nói giá alumina trung bình cả năm 2010 là 210 USD/tấn ?
Xin hỏi giá bán thấp hơn giá thành như vậy thì lấy đâu ra lãi mà nộp ngân sách đến 940 tỷ/năm như lời ông Quân ?
Cho dù bán với giá 315 USD/tấn trừ tiền thuế 20 % nộp nhà nước thì TKV chỉ còn thu về có 252 USD/tấn; chưa đủ chi phí: 265 USD/tấn ?
– Hiện nay giá thị trường của alumina năm 2010 theo ông Quân, ông Liêm khi thì 210 USD/tấn, khi thì 235 USD/tấn, khi thì 315 USD/tấn ? Giá thành là 265 USD/tấn ? Xin hỏi khi giá alumina trên thị trường thế giới sẽ tăng lên 400-500 USD theo như các ông phỏng đoán trong 10 năm tới; vậy liệu giá thành sản xuất trong nước có chịu dừng 265 USD/tấn hay sẽ lên tới 700-800 USD/tấn ?
– Xin mở ngoặc thêm, trong Báo cáo 91/BC-CP của Chính phủ  về việc triển khai dự án bauxite gửi các đại biểu Quốc hội do Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Huy Hoàng thừa ủy quyền Thủ tướng ký ngày 25/5/2009, BC 91 hiện đang lưu tại địa chỉ:http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849417  thì giá thành được tính cho cả đời dự án đối với 1 tấn alumina là 362 USD/tấn.
Xin hỏi Bộ Công thương và Thủ tướng làm cách nào mà giảm được giá thành từ 362 USD/tấn từ năm 2009 xuống 265 USD/tấn trong năm 2010; trong khi trên thị trường giá cả tất cả đều tăng ? Nếu theo giải trình của ông Nguyễn Thành Liêm thì BC 91 ký ngày 25/5/2009 của BT Nguyễn Huy Hoàng là sai sự thật, không đáng tin cậy? Có điểm nào trong BC 91 cần cải chính nữa không và số liệu 265 USD/tấn đã là số liệu cuối cùng chưa về giá thành trên 1 tấn alumina sản phẩm ?
Tất cả những đúc kết thành câu hỏi trên để truy bài đều được rút tỉa từ các trả lời sau đây của các ông Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn Mạnh Quân với Vietnamnet và Vinexpress trong 2 ngày 27 và 28/10/2010.
Mời bà con chịu khó đọc những ý kiến đã được copy từ 2 cuộc đối thoại trên để kiểm chứng: (Đọc tiếp…)
Phạm Viết Đào.
1/ Về những giải pháp đảm bảo an toàn cho môi trường do ông Bùi Cách Tuyến nêu ra:
Thứ nhất, đã họp với chính quyền địa phương của Lâm Đồng và Đăk Nông và đã tư vấn cho hai sở TN&MT của hai địa phương này thành lập hai dự án với đầy đủ các chi tiết cho việc thành lập hai trung tâm quan trắc và các chỉ tiêu quan trắc đối với môi trường của hai tỉnh nói chung và đối với khu vực sản xuất bô-xít nói riêng. Và kinh phí là do Tập đoàn TKV cung ứng và Tập đoàn TKV cũng đã có những văn bản để gửi UBND các địa phương này về việc cung cấp kinh phí cho việc thực hiện hai hệ thống quan trắc này.
Thứ hai, Bộ TN&MT đã thành lập một tổ giám sát và cử một Phó Tổng cục trưởng làm tổ trưởng, trong đó có rất nhiều thành viên là những chuyên viên của Sở TN&MT địa phương và có người của bên TKV cùng tham dự.
Và tổ giám sát này cho tới bây giờ đã tổ chức giám sát ba lần và đã báo cáo kết quả giám sát nằm đầy đủ trong kết quả hồ sơ mà chúng tôi đã lưu trữ. Và trong ba lần giám sát như vậy đều có biên bản đối với nơi giám sát, và sau đó là có văn bản đối với chủ đầu tư, những khuyến nghị mà tổ giám sát đã quan sát thấy ở trong thời kỳ giám sát.
Như vậy là đối với việc phối hợp với chính quyền địa phương thì có hai nội dung như vậy mà Bộ TN&MT đã hòan thành đối với trách nhiệm mà Thủ tướng Chính phủ giao…”
Với 2 giải pháp này: Thành lập Trung tâm quan trắc và Tổ Giám sát, BTNMM mới hoàn thành trách nhiệm mà Thủ tướng giao, mà Thủ tướng là một chính khách, một nhà quản lý chứ không phải là một khoa học về môi trường; Về cơ chế hiện nay, Chính phủ phải dựa vào Bộ TNMT, ý kiến của Thủ tướng không thể chuyên môn sâu hơn ý kiến của Bộ được. Nhưng những giải pháp mà Bộ TNMT do ông Thứ trưởng nêu ra nó hoàn toàn mang tính chất duy ý chí, áp đặt hành chính mà không dựa vào thực tế khách quan của đời sống xã hội công nghiệp. Xã hội công nghiệp Việt Nam  là một cái xã hội chịu sự điều hành, vận hành của một guồng máy zig-zag gấp vạn lần một cái đầu tàu hỏa hay ôtô… (Đọc tiếp…)
Phóng sự ảnh của Phạm Viết Đào. 

Dưới đây là một số hình ảnh của Nhà máy luyện Alumin Tân Rai Lâm Đồng mà chủ blog đã chụp được trong chuyến thăm Tân Rai-Lâm Đồng ngày 24/12/2009:
1/ Nhóm ảnh 1 đến 6 là nơi xây dựng nhà máy
2/ Nhóm ảnh từ ảnh 7 đến  8 là khu quy hoạch xây dựng bùn đỏ nằm trước cửa nhà máy và nằm trong thung lũng chỉ thấp hơn mặt bằng nhà máy khoảng 2-3 m
3/ Ảnh 8-9-10 là có dòng sông chảy qua được ngăn lại làm nơi rửa quặng, cách trụ sở của TKV khoảng 150 m và cách khu chứa bùn đỏ khoảng 300 m…
4/ Con sông có mặt nước thấp hơn mặt bằng của khu vực chứa bùn đỏ khoảng 3-4 m.. (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: phamvietdaonv | 21.10.2010

Đáng lẽ họ đã không phải chết

Tôi đọc đi đọc lại bài viết “Tiếng kêu cứu tuyệt vọng trên chiếc xe bị lũ cuốn” của hai tác giả Nguyên Khoa và Nguyễn Hưng trên báo VnExpress ngày 19/10. Càng đọc tôi lại càng day dứt với câu hỏi liệu chúng ta có thể tránh được những cái chết đã được báo trước như vậy không?
> > Lật xe khách giữa mưa lũ, 19 người mất tích/ 19 hành khách mất tích ít cơ hội sống sót

Nhưng có lẽ câu hỏi mà tôi đang day dứt sẽ không có câu trả lời, ít nhất là vào lúc này khi mà nỗi đau của 19 gia đình có người thân bị nạn trên chuyến xe định mệnh vẫn còn đó, khi mà miền Trung thương yêu vẫn oằn mình chống chọi với cái đói, cái rét giữa mênh mông biển nước. Và rồi điều gì sẽ đến sau khi nước rút đi mang theo toàn bộ tài sản của những người dân tội nghiệp? Họ sẽ tiếp tục sống như thế nào với hai bàn tay trắng và những hậu quả để lại sau lũ? (Đọc tiếp…)

(Đọc tiếp…)

– Không chỉ là một ca sĩ nổi tiếng, có nhan sắc hơn người, bà Bành Lệ Viện còn đang trở thành một ngôi sao chính trị của Trung Quốc khi chồng bà, ông Tập Cận Bình vừa được bầu vào chức Phó́ Chủ tịch Quân ủy Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
 

TIN LIÊN QUAN

Bành Lệ Viện (48 tuổi) đã tham gia lực lượng văn công Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa từ năm 18 tuổi, nổi tiếng với những bài hát về Đảng và quân đội. Bà Bành cũng đã nhiều lần nhận được các giải thưởng âm nhạc danh tiếng của Trung Quốc, là đại sứ thiện chí của UNICEF, tham gia các phong trào chống AIDS… và cũng đã được phong hàm thiếu tướng.

Nhưng theo giới truyền thông, bà sẽ còn nổi tiếng hơn nữa và vợ chồng bà trở thành cặp vợ chồng quyền lực nhất châu Á khi ông Tập có khả năng kế nhiệm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào năm 2013.

Nhưng khi trả lời truyền thông Trung Quốc, bà Bành Lệ Viện cho biết khi về nhà, lúc vào bếp, ông Tập “chỉ coi bà như một người vợ bình thường”.

Và vì cùng là Đảng viên nên cả ông Tập Cận Bình và bà Bành Lệ Viện đều tuân thủ chính sách một con. Họ có duy nhất một cô con gái được đặt tên là Tập Minh Trạch. Ông bà kết hôn năm 1987.

https://i0.wp.com/1.bp.blogspot.com/_qyw5L4xQJmg/TL1gJssswNI/AAAAAAAAAqg/I97YBb1rebs/s1600/IMG_8382.JPG
Một trong 2 giếng khoan phát hiện có dầu tại Tiền Hải Thái Bình năm 1976
Ghi chép của Phạm Viết Đào
Chủ nhật, Nguyễn Xuân Dĩnh nguyên Vụ phó Vụ Dầu khí của Bộ Công thương, Bỳ Văn Tứ nguyên Trưởng Ban Dự án Đầu tư Đạm Phũ Mỹ, vốn là 2 anh bạn cùng học với tôi hồi ở Romania; 2 anh học ngành dầu, còn tôi theo nghiệp văn chương, kéo tôi đi cùng với 2 nhà doanh nghiệp trẻ Nguyễn Văn Năng, Phó Giám đốc Công ty Citygas và Hải-Đồngminhgas về thăm Tiền Hải, Thái Bình thăm một cái nôi của ngành dầu khí Việt Nam.
Phó Giám đốc Sở Công thương Thái Bình Nguyễn Tuấn chủ trì buổi hội thảo
Các anh rủ tôi về Tiền Hải bởi theo các anh đây nơi đích thực cắt “ cái rốn” đầu tiên cho những bước đi chào đời của ngành dầu khí, cái ngành gắn bó, duyên nợ với cả cuộc đời của các anh; cái duyên cái nợ này có thể khiến cho một kẻ luôn máu mê viết những chuyện “ phù suy “ như tôi có đất mà múa bút…
Theo anh Bỳ Văn Tứ, các chuyên gia Liên Xô đã khảo sát và dự đoán từ những năm sáu mươi: vùng Tiền Hải, Thái Bình có khả năng có dầu và khí; thế nhưng công việc khoan thăm dò, một công việc bắt buộc đối với công nghiệp khai thác dầu khí chính thức bắt đầu từ năm 1974 và năm 1975, hai giếng khoan đầu tiên tại đây đã phun dầu. Hình ảnh này được Tivi nhiều lần đưa và coi nó như “ chiếc rốn “ đầu tiên của ngành dầu khí Việt Nam…
Trên đường về Tiền Hải, chúng tôi ghé nhà anh Nguyễn Xuân Nhữ ở thành phố Thái Bình, một kỹ sư địa chất đã lăn lộn từ những ngày đầu ở Tiền Hải, để rủ anh đưa đường đến thăm cái rốn dầu đầu tiên khoan sâu 1700 m và đã có dầu phun lên năm 1975.
Chúng tôi tìm đến vị trí của 2 giếng khoan hiện đang nằm trong khuôn viên của Công ty Dầu khí sông Hồng, cái giếng khoan đầu tiên, theo anh Nhữ cho biết được đặt tên là Giếng khoan 61, khởi công khoan năm 1974, năm 1975 đã có dầu phun lên, hiện giờ được rào vây quanh bằng lưới B 40.
 

Giếng khoan đầu tiên phun dầu năm 1975…
Cái giếng này bây giờ không còn dầu và khí nữa, Xý nghiệp khai thác nước khoáng Tiền Hải đang sử dụng giếng này để khai thác nước khoáng. Chúng tôi đành đứng ngoài để chụp mấy kiểu ảnh làm tư liệu. Chúng tôi chỉ có thể tiếp cận cái giếng khoan thứ 2 được khoan năm 1976, cũng trong khuôn viên hiện nay được giữ lại như một thứ di tích.
Theo anh Nhữ cho biết: Công ty Sông Hồng trong năm 2010 có khả năng chỉ khai thác được cỡ 4 triệu tấn m3 khí; thời điểm thịnh vượng ở đây hút lên được 50 triệu m3/năm; năm 2009 còn hút lên được 10 triệu tấn…Đây là một điều đáng báo động đối với khu Công nghiệp Gốm sứ, gạch men Tiền Hải được xây dựng lên ồ ạt để đón khí Tiền Hải.
Tiền Hải được coi là thủ phủ của ngành gốm sứ Việt Nam, hiện có hàng chục xý nghiệp đầu tư vào đây với số lượng công nhân ngót nghét vạn người, có xý nghiệp có tới cả ngàn công nhân… Nếu không có nguồn năng lượng thay thế cho khí Tiền Hải thì khả năng khu công nghiệp Tiền Hải sẽ sập tiệm.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp sản xuất gốm sứ ở đây đang tích cực tìm nguồn năng lượng thay thế, một giải pháp đã được triển khai là dùng than hóa khí để cung cấp cho lò nung nhưng xem chừng tiền đồ không mấy sáng sủa. Dùng than hóa khí vừa có giá thành cao, gây ô nhiễm và chất lượng của sứ ra lò không đạt chất lượng bằng sử dụng khí gas thiên nhiên.
Đây cũng chính là đầu đề bài toán nan giải của khu công nghiệp này; đây cũng chính là lý do, đề tài để 2 anh Nguyễn Xuân Dĩnh và Bỳ Văn Tứ kéo tôi đi theo để chứng kiến một cuộc “xe duyên” giữa các doanh nghiệp gốm sứ Tiền Hải, Thái Bình với 2 doanh nghiệp cung cấp khí đó là Citygas và Đồngminhgas…
Hai doanh nghiệp này có tham vọng sẽ là nhà đầu tư tham gia cung cấp khí gas thay thế cho khí gas đang “ hụt hơi” của khu công nghiệp Tiền Hải Thái Bình. Cuộc gặp gỡ, tiếp xúc này để các doanh nghiệp cung cấp khí gas trình bày phương án đầu tư, trình bày phương án đầu tư bằng một giải pháp công nghệ kỹ thuật mới, được tổ chức vào sáng thứ 2 ngày 18/10/2010 do Phó Giám đốc Sở Công thương Nguyễn Tuấn chủ trì. Tham dự có khoảng một chục các các doanh nghiệp gốm sứ, gạch men, thiết bị vệ sinh Tiền Hải.
Theo anh Dũng, Giám đốc Công ty Đonglamcera thì hàng năm khu công nghiệp Tiền Hải Thái Bình đang cần một lượng khí gas khoảng 70-80 triệu m3; nếu nhà đầu tư có giải pháp kỹ thuật để đưa được khí gas từ miền nam ra với giá bán không cáo hơn giá của than hóa khí, các doanh nghiệp sẽ hết sức hoan nghênh, sẵn sàng tham gia đầu tư để dự án này nhanh chóng được triển khai…
Anh Hải, Giám đốc Đồngminhgas, một người từng học ở Nga, nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật đã lên trình bày giải pháp kỹ thuật biến gas từ thể khí chuyển sang thể lỏng. Với giải pháp và giây chuyền công nghệ này, khi hạ nhiệu độ của gas xuống 162 độ bách phân thì thể tích của gas sẽ giảm xuống 600 lần…Như vậy, nếu đầu tư cho công nghệ này thì trước mắt mỗi ngày bình quân chỉ cần 3-4 xe chuyên dụng chở tù miền nam ra là đủ cung cấp khí đốt cho khu công nghiệp Tiền Hải. Với giải pháp kỹ thuật này, nếu các bên quyết tâm đầu tư thì trong vòng 6 tới 9 tháng, Citygas và Đồngminhgas có thể mang khí hóa lỏng cung cấp cho Tiền Hải thay thế công nghệ than hóa khí…
Theo anh Hải thì giải pháp kỹ thuật này là một phát minh của người Nga và đã được ngành công nghiệp Trung Quốc áp dụng rộng rãi. Hiện nay Trung Quốc đã sử dụng công nghệ này để chở khí gas từ vùng Tân Cương, về cung cấp cho vũng Đông Bắc Trung Quốc với một cung đường đúng bằng từ Tiền Hải đến miền Đông Nam Bộ.
Đó là giải pháp chữa cháy trước mắt, còn sau khi thành công, ổn định thì Đongminhgas có thể thay thế phương tiện vận tải bằng ôtô bằng tàu biển thì giá thành sẽ hạ hơn…
Các nhà doanh doanh nghiệp Tiền Hải đang chăm chú nghe giải pháp
Ngồi nghe thuyết trình và sự trao đi đổi lại thì thấy cuộc xe duyên này có vẻ có nhiều triển vọng thành công vì cả hai bên đều thật sự cần đến nhau; nhưng để có thể tác thành được thì lại phải có một điều kiện cần và đủ: giá thành, điều kiện và giải pháp kỹ thuật đáp ứng và môi trường sử dụng và cung cấp khí gas ổn định trong một thời gian nhất định; có như thế nhà đầu tư mới thu hồi được vốn đầu tư, nhà sản xuất được hưởng nguồn nhiên liệu mới với giá hợp lý…
Về giải pháp kỹ thuật của giây chuyền công nghệ thì: đây là một công nghệ mới hoàn toàn đối với Việt Nam nhưng không mới với thế giới; nhiều nước đã áp dụng công nghệ này. Vấn đề để công nghệ này áp dụng được môi trường Tiền Hải nói riêng và trong ngành dầu khí nói chung thì cần phải có sự xác lập một trường ổn định ở các nhân tố sau:
– Nhà đầu tư và các cố đông sẵn sàng góp vốn với điều kiện Petrovietnam cam kết cung cấp đủ nhu cầu khí cho khu công nghiệp Thái Bình theo giá bán giành cho ngành điện và ngành phân bón;
– Nhà đầu tư và nhà cung cấp kỹ thuật giây chuyền công nghệ đảm bảo cung ứng, cung cấp nhiêu liệu tới cổng nhà máy an toán, đầy đủ và đúng tiến độ với giá bán hợp lý được 2 bên thỏa thuận…
Hai điều kiện này rõ ràng cần sự bảo lãnh, bảo hiểm từ cả phía nhà nước địa phương: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình phải làm việc được với Petrovietnam, để được Petrovietnam cam kết cung cấp nguồn khí ổn định trong khoảng 10 năm vì ngành dầu khí là ngành do nhà nước thống nhất quản lý. Có sử dụng ổn định trong thời gian đó thì mới đảm bảo cho vốn đầu tư được thu hồi…
Đây là một bài toán, đối với kẻ ngoại đạo về kinh doanh như tôi cũng thấy là không khó, cái khó là những người chơi có thật lòng, có thiện chí, có sòng phẳng, minh bạch với nhau không, cùng nhau chia mọi khó khăn thuận lợi với nhau. Nếu dự án này thành công thì mở ra một chân mới cho các khu công nghiệp phía bắc đang thiếu khí, trong khi lượng khí chủ yếu vẫn nằm ở khu vực phía nam…
Anh Nguyễn Tuấn, người chủ trì cuộc hội thảo đã kết luận: UBND tỉnh Thái Bình sẽ vào cuộc, sẽ là đầu mối chắp nối để các doanh nghiệp gắn kết với nhau vì sự nghiệp nhiên liệu cho công nghiệp Thái Bình. Muốn tỉnh ra tay, các doanh nghiệp phải thỏa thuận được với nhau, phải đồng thuận được với nhau thì tỉnh mới vào cuộc được; tức phải có được sự liên kết của “ ba nhà “.
Cuộc họp kết thúc gần 12 giờ trưa, khá mệt vì cả một buổi đầu tôi ong lên bởi những thuật ngữa kỹ thuật, kinh tế cả tiếng Anh pha tiếng Việt…Trên đường về, không chỉ tôi mà cả Bỳ Văn Tứ cũng đăm chiêu suy nghĩ. Tôi hiểu, đối với Bỳ Văn Tứ là người lăn lộn với ngành dầu khí Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Anh tốt nghiệp trường dầu năm 1971, chuyện dầu đã gần như ngấm vào trong máu, vào trong nhịp thở của các anh giống như tôi chữ nghĩa đối với tôi. Đã mang lấy nghiệp vào thân, đối với những kẻ như tôi, hàng ngày làm cái việc “dở khôn dở dại”  tìm cách chuyển tải những điều suy nghĩ, cảm xúc của mình về nhân tình thế thái, về chuyện đời vào blog, để tung lên trời thì đối với những con người như Bỳ Văn Tứ, bao năm lăn lộn với nghề, nếu không bàn đến chuyện dầu khí, không trăn trở về chuyện dầu khí có khi ăn không ngon, ngủ không yên…
Bỳ Văn Tứ nguyên là Trưởng ban Dự án Đạm Phú Mỹ, anh đã bị bắt bỏ tù vào đúng ngày dự án mà anh là Trưởng Ban khánh thành. Ban quản lý được khen thưởng vì đã hoàn thành đúng tiến độ, được thưởng huân chương còn Trưởng ban thì bị tống vào nhà giam để rồi ngồi bóc lịch 16 tháng. Bỳ Văn Tứ cho biết, những ngày đó nếu không nghị lực lắm thì cũng đã tìm cách tự tử trong tù vì uất ức. 

Từ phải sang trái: Anh Nguyễn Xuân Nhữ, Nguyễn Xuân Dĩnh, Bỳ Văn Tứ…

Theo bạn bè ngành dầu khí của tôi cho biết, hiện nay Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ vẫn là dự thành  công nhất của ngành dầu khí. Dự án được Chính phủ duyệt 450 triệu USD như khi quyết toán chi tiêu hết 385 triệu USD. Hiện nay hàng năm thu lãi khoảng 1000 tỷ đồng nộp ngân sách. Thế nhưng Bỳ Văn Tứ và một số anh em đã bị ông Lương Cao Khải và bộ sậu của Thanh tra Chính phủ vào thanh tra kết cho những tội tài đình và bị tống giam vì đã gây thiệt hại cho nhà nước. Nhưng rồi trời cũng có mắt, sau 16 tháng, Bỳ Văn Tứ được ra và kẻ thay thế anh lại là Lương Cao Khải…Bỳ Văn Tứ vẫn hứa với tôi sẽ có ngày kể cho tôi nghe về những duyên nợ của anh với cái nghề, cái nghiệp mà anh đã chọn.
Nguyễn Xuân Dĩnh, Bỳ Văn Tứ những người đã về hưu kéo tôi về Tiền Hải lần này cũng để cho tôi hình dung ra được phần nào cái sự gian truân, khốc liệt, đen bạc của cái ngành dầu khí, một ngành thu được nhiều tiền và thời thượng hiện nay.
Tôi biết, Bỳ Văn Tứ được các công ty mời làm tư vấn cho dự án này vì tin vào tiếng nói và uy tín của anh. Dự án làm ăn lớn nào mà không phải có những khó khăn, phải chấp nhận phiêu lưu và trả giá; ngoài trí tuệ, tiền của đôi khi cả sinh mạng chính trị của cả một đời người. Tóc đã bạc vì phong sương, Bỳ Văn Tứ và Nguyễn Xuân Dĩnh lao vào dự án đầu tư khí cho Tiền Hải như một thứ trách nhiệm bảo trì, bão dưỡng một biểu tượng của ngành, nơi mà các anh đã dốc một phần tâm sức của tuổi trẻ cho công trình này.
Do ngành dầu khí lên tiếng là có dầu, có khí, thế là các xý nghiệp đổ xô vào đầu tư…Thế nhưng ở đời ai dám chắc chữ ngờ; chỉ được hơn 30 năm, nguồn khí đã cạn dần, còn dầu thì không đủ trữ lượng khai thác. Nhà văn Văn Chinh quê ở Tiền Hải kể với tôi: cũng có lúc do người Thái Bình ta vung phí khí gas, dùng nó để nung vôi. Do kỹ thuật không giải quyết được nên khí thì mất mà vôi thì khộng đạt chất lượng. Còn giờ đây sự lay lắt của khu công nghiệp gốm sứ này bắt đầu le lói. Có những lô hàng xuất phải xuống hạng vị chất lượng không đạt. Giá thành bắt đầu đội lên? Tất cả những cái đó đều không thể trách ai. Phải làm cách nào cứu nó; ngành dầu khí không thể để cho những bạn hàng ruột của mình tự vật lộn với rủi ro. Thế là bài toán tìm công nghệ khí hỏa lỏng cung cấp cho Tiền Hải được đặt ra và Nguyễn Xuân Dĩnh và Bỳ Văn Tứ lao vào…
Trạm thu khí của Công ty Sông Hồng
Tôi tin Petrovietnam sẽ không bỏ mặc cho Tiền Hải, Thái Bình tự xoay xở mà sẽ chung tay để cứu một biểu tượng liên kết làm ăn của ngành dầu khí không bị sụp đổ. Cách đây hơn một năm ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước đã dắt một đàn trâu tương đương 5 tỷ đồng để tặng cho đồng bào vùng Bắc Bó- Cao Băng, nói đúng hơn là để bảo trì, bảo dưỡng một trong những cái nôi của cách mạng; bởi cách mạng đã thành công hơn 60 năm nhưng bà con ở đây có đổi đời được bao nhiêu, nếu không bảo trì, bảo dưỡng thì nôi sẽ rách.
Tôi tin ý chí của Bỳ Văn Tứ, Nguyễn Xuân Dĩnh, của Citygas, Đồngminhgas của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình sẽ được Petrovietnam hỗ trợ, đáp ứng tối đa. Vấn đề còn lại đó là bài toán công nghệ, bài toán kỹ thuật không mới với thế giới nhưng là lần đầu đối với Việt Nam. Các nhà kỹ thuật có khả năng đảm bảo khí gas mang được về Tiền Hải an toàn và hợp lý giá? Đây là câu hỏi, bài toán giành cho các nhà kỹ thuật… 

Con đường ngổn ngang cho thấy sự khó khăn đã xuất hiện của khu công nghiệp Tiền Hải hôm nay
P.V.Đ
Những giây phút cuối trên chiếc xe khách bị lũ cuốn

Trời tối đen, mưa như trút nước, cậu con trai ông Lực hét lên “Bố ơi con không biết bơi” rồi bám chặt vào xe khách. Chiếc xe bồng bềnh nổi trên nước rồi chìm trong dòng lũ ở Hà Tĩnh, tiếng kêu cứu tắt lịm.

Khuôn mặt hoảng loạn, ánh mắt vô hồn đăm chiêu nhìn ra biển nước, ông Trần Đắc Lực (57 tuổi) ở Đăk Nông kể về chuyến xe khách kinh hoàng trong đêm lũ cùng nỗi đau mất con, mất cháu.

>> Phòng chống bão số 6 với tinh thần cao nhất

>> Ngôi làng bị lũ xóa tên

>> Cơn lốc “vàng tặc” tại Sông Hinh (Đọc tiếp…)

– Thế giới không có ai luật hóa vai trò lãnh đạo của đảng, nhưng tại sao chúng ta lại cần luật hóa? Bởi vì, một đảng không có thể chế đối trọng một cách tự nhiên, là cơ hội dễ dàng cho việc xảy ra tình trạng chuyên chế, độc tài… – Ý kiến của GS.TS Nguyễn Đăng Dung.

>> Loạt bài Đóng góp ý kiến cho Đại hội Đảng XI
>> Đã đến lúc phải có luật cho Đảng cầm quyền
>> “Không có gì phải né tránh luật về Đảng”

LTS: Trong cuộc trò chuyện hôm qua với VietNamNet, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc khẳng định: Không có gì phải né tránh luật về Đảng. Hôm nay, VietNamNet tiếp tục giới thiệu ý kiến của ông Nguyễn Đăng Dung, Chủ nhiệm bộ môn Hiến pháp, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội.

Theo ông Dung, cơ chế chính trị của Việt Nam khác với cơ chế chính trị của các nước, thế giới đa số là đa nguyên, ta là nhất nguyên. Nhất nguyên có cái hay là dễ thống nhất, nhưng bên cạnh đó, Đảng lại dễ rơi vào chủ quan, áp đặt, mà trở thành một lực lượng chuyên chế. Đảng và Nhà nước phải hết sức đề phòng căn bệnh cố hữu này, để luôn xứng đáng với lòng tin yêu như đã và đang có của nhân dân.

Góc nhìn của ông Nguyễn Đăng Dung có thể còn cần phải bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi, tôn trọng không khí tranh luận cởi mở, VietNamNet giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện này. Mời bạn đọc cùng tranh luận. (Đọc tiếp…)

Sau khi Blog Phamvietdaonv, báo Tiền phong và báo Sức khỏe và Đời sống… đăng loạt bài điều tra về vụ tiếp tay của Phòng giao dịch Tân Lợi-Đắk Lắk cho Nguyễn Thị Hoa, trú tại thôn Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, sử dụng danh nghĩa môi giới, giúp hơn 40 hộ  nông dân ở Đắc Lắc vay vốn ngân hàng để lừa đảo, chiếm đoạt tiền của bà con. Loạt bài đã thúc đẩy các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật ở Đắk Lắk vào cuộc.

Sau khi loạt bài được đăng, Chi nhánh ngân hành AGRIBANK ở Đắk Lắk đã chính thức có công văn số 1527, ngày 8/10/2010 gửi Tổng Biên tập Báo Tiền phong giải trình về vụ việc này.
Xin giới thiệu toàn văn công văn giải trình và hy vọng: đây là một trong những cơ sở bước đầu để các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật tại Đắk Lắk vào cuộc, có biện pháp hữu hiệu trừng trị những hành vi lừa đảo của Nguyễn Thị Hoa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà con nông dân ở Đắk Lắk.

Sau hơn 2 tháng mắc kẹt, 33 thợ mỏ Chile đã được cứu thoát nhờ công nghệ hiện đại và sự khéo léo của lực lượng cứu hộ. Nhưng lý do nào giúp họ sống sót ở độ sâu 624m với nhiều ngày thiếu lương thực, bị bệnh tật và tâm trạng lo lắng?
>> Chile giải cứu thành công các thợ mỏ kẹt 69 ngày trong hầm sâu

Họ ăn gì? (Đọc tiếp…)

Tường thuật lại trận hải chiến tại Hoàng Sa 19-1-1974 giữa quân đội Việt Nam cộng hòa và Hải quân Trung Quốc

Lời mở đầu: Bài viết này tổng hợp từ các bài đã viết về Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trong trận hải chiến Hoàng Sa, và các tài liệu đã được tìm thấy gần đây trong đó có tài liệu do gia đình cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cung cấp.

Tác giả hy vọng sẽ trình bày một cách đầy đủ những hình ảnh hào hùng và bi thương của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong trận hải chiến lịch sử chống lại bọn giặc xâm lăng Trung Cộng.

Thềm Sơn Hà (Đọc tiếp…)

Vua Trần Nhân Tông đã để lại di chúc như sau:” Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Hoạ muôn đời của ta là nước Tàu. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Luôn luôn bày đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gặm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay kẻ thù. Ðây là di chúc cho con cháu muôn đời”. (Trần Nhân Tông 1279-1293)

Đoàn Viết Ất quê Nam Định, di cư vào nam 1954, người chỉ huy pháo HQ 16 đã khai hỏa bắn vào tàu Trung Quốc… (Đọc tiếp…)

BLOG PHAMVIETDAONV: CÓ NÊN CÔNG NHẬN NHỮNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐÃ HY SINH TRONG TRẬN HẢI CHIẾN BẢO VỆ HOÀNG SA 1974 LÀ NHỮNG LIỆT SĨ ?!
Bài trả lời lại bài: LỘ DIỆN KẺ ĐÁNH MẤT HOÀNG SA SAU 33 NĂM đã đăng trên Tạp chí Xưa và Nay của Hội Lịch sử Việt Nam số 301 + 302, 2/2008, tr 25; bài viết đã được Blog của Phạm Viết Đào đưa lại nguyên văn …
Tác giả: Đại tá Hải quân Việt Nam Cộng hòa HÀ VĂN NGẠC
Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Hải Ðội Trưởng Hải Ðội III Tuần Dương HQVNCH, người chỉ huy trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, đã đột ngột từ trần tại Dallas, Texas vào hồi 10 giờ 30 sáng Thứ Sáu ngày 12 tháng 2 năm 1999, hưởng thọ 64 tuổi.
Trong khoảng 10 năm vừa qua, chúng tôi liên lạc rất thường xuyên với Ðại Tá Ngạc để yêu cầu ông viết về trận hải chiến Hoàng Sa, nhưng vì nhiều lý do, ông vẫn do dự. Mãi tới cuối năm 1998, vào dịp Lễ Giáng Sinh, ông mới gửi tới Tòa Soạn Nguyệt San Ðoàn Kết bài “Tường Thuật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” do chính ông viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm trận đánh lịch sử này. Ngoài ra, ông cũng đã cho phép chúng tôi phỏng vấn và cung cấp nhiều hình ảnh hiếm có cùng những chi tiết qúi báu về vị trí của các chiến hạm tham chiến để Tòa Soạn có thể sửa lại các phóng đồ về trận hải chiến cho thêm chính xác.
Ðúng 25 năm trước, vào mùa Xuân Giáp Dần năm 1974 , Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã anh dũng chỉ huy các chiến hạm Hải Quân VNCH chận đánh quân xâm lăng Trung Cộng tại Hoàng Sa. Giờ đây, hương linh chiến hữu Hà Văn Ngạc vừa trở lại với Hoàng Sa để tiếp tục bảo vệ chủ quyền chính đáng của Tổ Quốc Việt Nam tại Biển Ðông.
 

Trân trọng.
Đăng bởi: phamvietdaonv | 11.10.2010

CẢNH BÁO VỀ THỰC PHẨM DOPING

Ở nước ta người chăn nuôi đã không ngần ngại dùng bất cứ hóa chất nào cho dù “độc” nhất để sản xuất “thịt bẩn” miễn sao đạt được tiêu chí “một vốn, mười lời” mà không hề bận tâm tới đạo đức nghề nghiệp.

Thăm một trang trại nuôi lợn, các phóng viên của một tờ báo chuyên ngành đã không kìm được sự sửng sốt vì những con lợn chuẩn bị xuất chuồng ở đây, con nào con nấy hoàn toàn giống như “lợn họa” trong tranh Đông Hồ: “Hơn 100 con heo chuẩn bị xuất chuồng có trọng lượng đều trên 100kg,  hai vai nở tròn căng như 2 quả bóng đá, hai mông căng như 2 quả bóng rổ, bụng thon, da mỏng và bóng, mắt ướt long lanh hừng hực sức sống. Cứ tưởng rằng đấy là giống heo mới nhập nội, nhưng không chúng vẫn chỉ là Yorshire (Đại bạch) đã rất phổ biến nhiều năm nay”. (Đọc tiếp…)

– Theo thông tin từ Hungarie, đã có 7 người thiệt mạng do bùn đỏ tràn;
-Một đứa bé 7 tuổi đã bị mù do bố mẹ bất cẩn sử dụng nước có nhiễm bùn đỏ…
– 800 người dân của 3 làng đã phải sơ tán khẩn cấp khỏi vùng Konlontar;
-Tỷ phú Soros đã tặng 1 triệu USD;
– Nơi xảy ra thảm họa cách thủ đô Budapest 100 dặm;
– Bể bùn đỏ bị vỡ có dung tích 1 triệu m3, tương đương với 400 bể bơi thể thao…
– Mạng lưới y tế của những tỉnh nằm trong lưu cực sông Đanuyp của Romania đã được báo động và tìm các biện pháp đối phó với bùn đỏ;
– 600.000 m3 bùn đỏ đã chảy vào con ngòi Marcal, con ngòi này cháy vào sông Đanuyp; Cá sông Đanuyp bắt đầu chết nổi lên do nhiễm độc bùn đỏ…
( Thông tin sẽ cập nhật về thảm họa bùn đỏ ) (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: phamvietdaonv | 10.10.2010

Cây cảnh triệu đô trưng bày mừng Hà Nội 1000 năm

Một nghìn sinh vật cảnh với nhiều kiểu dáng lạ mắt được trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội đang thu hút khá đông khách tham quan. Trong số này, có loại giá lên đến hàng triệu USD.

Từ sáng sớm anh Nguyễn Văn Vinh ở Đội Cấn đã có mặt tại Bảo tàng Hà Nội vì mấy hôm nay anh nghe bạn bè kháo nhau về cây cảnh giá 120 tỷ đồng tương đương 6 triệu USD đang trưng bày tại đây.

Tác phẩm mà anh Vinh đang nói đến có tên “Mâm xôi gà”, chủ nhân của nó là anh Phan Văn Thành ỏ Việt Trì (Phú Thọ). Theo chủ nhân của tác phẩm này, đây là một cây quý có tuổi đời hàng trăm năm, đã được chế tác một cách hoàn hảo mô tả đúng như hình thù con gà mâm xôi và hội tụ đủ bốn tiêu chuẩn của một cây cảnh đẹp: cổ, kỳ, mỹ, văn.

Siêu phẩm “Mâm xôi gà” giá 6 triệu đô. Ảnh: T.P (Đọc tiếp…)
Đăng bởi: phamvietdaonv | 09.10.2010

Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung

Sau hơn 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những bảo vật tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến như kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bảo kiếm… lần đầu được giới thiệu tới công chúng sáng 9/10.

Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung. (Đọc tiếp…)

PHẠM VIẾT ĐÀO.

Báo Hà Nội mới gần đây vừa đăng một bài viết rất chi là hoành tráng, với giọng điệu hết sức kẻ cả, bề trên của tác giả Hoàng Thu Vân ( HTV ), đó là bài: Họ đã xúc phạm niềm tự hào dân tộc của người dân Việt Nam…
Ô…hô…Vậy  ai là đối tượng mà tác giả HTV xếp vào cái đám “ họ “ để HTV chụp cho cái mũ: “ đang xúc phạm niềm tự hào dân tộc của người Việt Nam” đây ? Phải chăng chỉ có HTV mới được quyền tự hào mình đích thực là con Rồng cháu Lạc còn lại họ là cái đám người Việt gốc tre, gốc mít cả sao ? (Đọc tiếp…)

Thơ Thế sự của Phạm Viết Đào.

Không một bệnh viện nào… khánh thành
Trong Đại lễ ngàn năm
Các con bệnh vẫn phải chung nhau 4,5 người giường
Ngậm ngùi nghe Chiếu dời đô vua Lý…
Không một bệnh viện nào… khánh thành
Trong Đại lễ ngàn năm
Đường phố rợp cờ
Không gian Hà Thành rực pháo hoa nội, ngoại
Liệu có làm vơi đi được phần nào nỗi đau thân xác
Của những con bệnh bần hàn
Vật nài từng phút, từng giây để kéo ghì sự sống…
Không một bệnh viện nào…khánh thành
Trong Đại lễ ngàn năm
Hàng ngàn tỷ đồng được giải ngân
Cho những chương trình, dự án
Thành phố có biết bao cao cấp chung cư khánh thành,
Bao khách sạn siêu sao
Bao văn phòng cho thuê choáng lộn
Bao nhà hát xây lên, gióng trống khai trương…
Bao tượng đài được dựng lên
Ghi những huyền tích chiến công
Bao nhà hàng sang trọng
Giành cho những giới có tiền
Tận hưởng phú quý, ăn chơi…
Con số đông nhân dân
Vẫn phải sờ nắn túi mình trong từng phiên chợ
Bởi 300 mặt hàng tăng giá…ngựa phi
Không một bệnh viện nào…khánh thành
Trong Đại lễ ngàn năm ???

P.V.Đ

Blog Phamvietdaonv: Khi Lý Thái tổ ngự thuyền rồng về đến Đại La thì rồng vàng xuất hiện, báo hiệu Minh Chúa ra đời ; còn dịp Đại lễ ngàn năm này thì các báo lại chụp được hình ảnh Rồng Đen ( Hắc Rồng ) xuất hiện thấp thoáng ở phía chân trời có nền màu vàng, không biết dự báo điềm gì đây ?
Rồng có thể đen, có thể tham lam, tăm tối… nhưng trời đất, nhân dân, vận nước thì vẫn vàng son, sáng sủa chăng ?
Dân tộc, đất nước vẫn mãi trường tồn cho dù đang bị ngự trị bởi loại rồng gì; đó là mấy lời ngu kiến giải đoán mò hiện tượng rồng vừa xuất hiện trong những ngày Đại Lễ vừa qua !

Hà Nội dịp Đại lễ ngàn năm có nhiềi Rồng Vàng nhưng là Rồng Vàng trang trí, nhân tạo…


THÔNG BÁO:
Thỉnh thoảng nếu gặp trở ngại không vào được Blog, mời bà con vào theo các cửa sau:
1/ Gõ anonymouse.org thấy xuất hiện cờ của nước Anh và Đức…
2/ Kich vào cờ Anh thấy xuất hiện cửa số, bà con điền địa chỉ blog: Phamvietdaonv.blogspot.com sẽ vào được bình thường.
Phạm Viết Đào.
Đăng bởi: phamvietdaonv | 05.10.2010

THÔNG BÁO VÀO TRANG CHÍNH CỦA PHẠM VIẾT ĐÀO:

Hiện nay trang Blog chính của Phạm Viết Đào có địa chỉ sau đây:

Phamvietdaonv.blogspot.com hiện nhiều bà con xa gần phàn nàn khó vào. Nếu gặp khó khăn mời bà con vào theo các cửa sau đây:

1/ Vào Anonymouse.org sẽ thấy xuất hiện Cờ của nước Anh và Đức, nhấn vào cờ Anh sẽ xuất hiện cửa sổ

2/ Điền địa chỉ: Phamvietdaonv.blogspot.com sẽ vào được tảng chính

Xin cảm ơn bà con…

Phóng sự điều tra nhiều kỳ của Phạm Viết Đào.


-Nguyễn Thị Hoa đã lừa đảo, chiếm đoạt gần 30 tỷ đồng của 40 hộ nông dân, bà con người dân tộc ở Đắk Lắk; Sau vụ bị lừa đảo này, nhiều gia đình đang đứng trước nguy cơ bị Ngân hàng sẽ thu nhà đất để xiết nợ; 2 người đã tự tử vì bị thúc nợ, trong đó 1 người phụ nữ 25 tuổi đã treo cổ chết ?! Bài 1: Điều tra theo lá thư tuyệt mệnh của chị Đào Thị Phúc…

Anh Nguyễn Hộ chồng chị Phúc và 2 con trước bàn thờ vợ vừa quyên sinh… (Đọc tiếp…)

Người dịch: PHẠM VIẾT ĐÀO
Telegraph vừa đưa tin: Các nhà khoa học vừa dự đoán về một thảm họa có thể xảy ra: một vụ nổ của mặt trời vào năm 2013 tại khu vực châu Âu.Trong một cuộc họp báo Tiến sĩ Richard Fisher đã thông báo: sẽ có vụ va chạm của những tia sóng điện từ với một mức độ không thể lường định được. Rất nhiều nhà nghiên cứu cho biết ‘ “ “ vụ nổ mặt trời “ sẽ xảy ra vào năm 2013 khi mà trái đất có thể bị tiếng nổ cực mạnh này xô vào.“ Khu vực xảy ra vụ nổ sẽ dẫn tới bị mất điện kéo dài. Sóng điện tử này sẽ lan tỏa điên cuồng như ánh chớp…” Đó là ý kiến của Tiến sĩ Richard Fisher.Theo các nhà khoa học Anh, vụ nổ mặt trời sẽ rất mạnh có thể phá hủy toàn bộ hệ thống thông tin và gây hậu quả khủng khiếp đối với con người; nó có sức công phá mạnh tương đương với 100 quả bom Hidrogen…Theo các nhà khoa học thì nếu vụ nổ mặt trời này gần quả đất thì rất nhiều quốc gia sẽ bị hủy diệt. Trong một cuộc họp báo Tiến sĩ Liam Fox đã thông báo: Nước Anh, Bắc Triều Tiên, Iran có thể có khả năng hứng chịu thảm họa này.Vào năm 2013 vụ nổ mặt trời sẽ va chạm với trái đất và rất khủng khiếp; nó sẽ hủy diệt toàn bộ các vệ tinh do con người phóng lên vũ trụ và các con tàu thám hiểm không gian.

Theo các chuyên gia NASA thì toàn bộ máy móc điện tử sẽ bị hủy hoại, hệ thống ngân hàng, bệnh viện sẽ bị tê liệt, các trạm kiểm soát không gian chỉ còn là những cục gạch…

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Anh vừa tuyên bố tuần tới sẽ sang gặp các chuyên gia NASA trong một cuộc hội thảo để bàn cách hạn chế thấp nhất những sự phá hoại do vụ nổ mặt trời gây ra vào năm 2013.“Chúng tôi biết chắc rằng thảm họa này sẽ xảy ra nhưng không lường trước được sự tàn phá của nó đến đâu”- Đó là ý kiến của Tiến sĩ Richard Fisher , Giám đốc của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA khi đề cập tới cơn bão mặt trời này…


P.V.Đ

Đăng bởi: phamvietdaonv | 13.09.2010

VINASHIN DIỄN NGHĨA ( Hồi 2 )

Hồi 2: ĐẾN ĐƯỜNG CÙNG TƯỞNG HUNG HÓA CÁT; TRONG TÀU NÁT VỚT VÁT KẾ SÁCH TÀU…

La Quán Cơm.

Lại nói, sau khi tự trói mình để Phủ Thừa tướng để chịu tội nhưng được tha về,Tổng quản Thanh Bình ngay tối hôm đó lao ngay đến biệt phủ của Phó Thừa tướng Hoàng Trung vừa để bàn tính việc dâng “ không thành kế “: vừa nhằm mục đích vừa để thoát tội cho mình, giải thoát cho Phủ Thừa tướng đang rơi vào tình cảnh bị vây hãm sau vụ Vinashin; Tình cảnh của Vinashin hiện tại gần giống với trường hợp Gia Cát Võ hầu khi xưa, trong tay có 2500 quân già yếu những phải đối địch với 15 vạn quân Tư Mã Ý…

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 07.09.2010

VINASHIN DIỄN NGHĨA… ( Hồi 1 )

Hồi 1: VIỆT THỪA TƯỚNG DŨNG TẤN GẠT LỆ CHÉMTHANH BÌNH; PHÓ THỪA TƯỚNG GIẢI CỨU VINASHIN BẰNG “ KHÔNG THÀNH KẾ ”

La Quán Cơm.

Gò Bách Thảo nằm sát bên bờ Hồ Tây, đại bản doanh của Thừa tướng nước Việt những ngày hè năm 2010 nóng đến trên 40 độ những vẫn tấp nập kẻ vào người ra; việc quân cơ, việc chính trường, việc nội trị xem chừng còn làm cho biệt phủ nóng hơn cả không khí ngoài trời; mặc dù được sử dụng hệ thống điều hòa tổng xịn nhất…Chiều nay, Tổng quản Thanh Bình tự trói mình, cho quân điệu đến biệt phủ Thừa tướng để tạ tội. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 04.09.2010

VINASHIN DIỄN NGHĨA…

Blog Phamvietdaonv kính báo:

Mời bà con xa gần chuẩn bị đón đọc một số chương hồi của bộ tiểu thuyết chương hồi nhiều tập ly kỳ, hấp dẫn: Vinashin diễn nghĩa…sẽ được giới thiệu ra mắt trong một vài ngày gần đây. (Đọc tiếp…)

NTT: Mấy hôm nay ngồi giám khảo liên hoan nghệ thuật HSSV ngành dạy nghề liền tù tì mới ớ ra: ghét anh nào thì cứ mời hắn làm giám khảo. Về nhìn ngôi nhà mình thấy văng vắng, lại có bài của ông bạn Ngô Minh “quảng cáo” cho thân chủ, vậy đưa lên để bạn đọc nghiệm sinh về cái sự chơi với nhà quảng cáo lợi hại thế nào…

NGÔ MINH

Ngô Minh và Nguyễn Trọng Tạo

* (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 21.08.2010

ĐÃ CÓ THÔNG TIN CHÍNH THỨC TỪ BỘ NGOẠI GIAO VỀ

YÊU CẦU CỦA BLOG PHAMVIETDAONV: KIỂM CHỨNG THÔNG TIN TRUNG QUỐC XÂM LẤN SÂU LÃNH HẢI VN Ở QUẢNG NGÃI ?

Trong bài: Sẽ nổ ra một Xích Bích đại chiến trên Biển Đông trong thế kỷ XXI, hiển thị ngày 15/8/2010, ( http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=6447&prev=6453&next=6441) Blog Phamvietdaonv đã đề nghị:” Bộ Quốc phòng cho kiểm chứng và công khai thông tin đang được lưu truyển: Trung Quốc đã cho tàu chiến của mình hộ tống dàn khoan thăm dò tiến sâu vào hải phận Việt Nam, cách bờ biển Quảng Ngài 100 hải lý; nếu thông tin này là đúng thì đây là một hành động ngang xương, ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh giống như năm xưa đòi đưa tàu chiến vào cảng Chùa Vẽ…
Nếu Chính phủ thấy chưa thể đối đầu được, chưa đủ sức đối đầu với hành động cướp biển ngang ngược này của Trung Quốc thì cho phép các phương tiện thông tin cá nhân lên tiếng theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc…Bởi vì ” chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng; nếu chúng ta càng nhân nhượng thì giặc càng lấn tời…Có thể để cho các đoàn thể mitinh phản đối hoặc các cuộc vận động tẩy chay hàng Trung Quốc…Đấu tranh không có nghĩa là nếu Trung Quốc đưa tàu chiến ta cũng đưa tàu chiến hiện đại hơn, đôi khi bằng biện pháp hòa bình, không cần đổ xương máu mà vẫn đạt hiệu quả…Nếu Chính phủ không ngăn cản thì sẽ có hàng triệu người dân xuống đường phản đối Trung Quốc ngay lập tức…” (Đọc tiếp…)

-Việt Nam cần phải tìm mọi cách, cơ hội, diễn đàn chứng minh cho cả thế giới thấy: dã tâm xấu xa bành trướng, bắt nạt nước nhỏ của nhà cầm quyền Bắc Kinh; phải quốc tế hóa và “du kích chiến” vấn đề tranh chấp Biển Đông cả trong lĩnh vực thông tin. Việt Nam cần tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới để kiềm chế hạ nhiệt cuồng vọng của thế lực bành trướng phương Bắc;

– Phát biểu như ông Thứ trưởng Bộ Quốc phòng rất dễ làm cho thế giới hiểu nhầm: Bắc Kinh không xấu và ác với Việt Nam; quan hệ Việt Nam và Trung Quốc vẫn vô cùng tốt đẹp do đó đừng có ai xía vào chuyện riêng của Việt Nam-Trung Quốc ? Nếu thế giới hiểu như vậy thì nguy cho Việt Nam !

Phúc Lộc Thọ.

(Đọc tiếp…)

-Tại Hà Giang vào cuối những năm 80:Không rõ bên nào chủ động trước nhưng 2 đơn vị lính của phía Trung Quốc và Việt Nam tại điểm chốt tiền tiêu đã thỏa thuận ngầm với nhau là thôi không bắn nhau nữa. Hai bên đã chán cảnh bắn nhau, chém giết nhau…

– Một nhịp cầu hữu nghị tình cờ được xây lên:Từ chỗ hai bên căng thẳng rình bắn nhau từng giây từng phút, lính 2 trạm chốt này đêm đêm đã bí mặt gặp nhau, giao lưu nhảy múa, hát hò và tặng thuốc lá, thuốc lào và nhu yếu phẩm cho nhau ?

Phạm Viết Đào.

(Đọc tiếp…)

Phạm Viết Đào.

Em trai tôi, liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, hy sinh đêm ngày 13 rạng sáng ngày 14/6 âm lịch tại mặt trận Vị Xuyên Hà Giang; giấy báo tử ghi hy sinh ngày 12/7/1984 kèm theo giòng chữ: Do tình chất trận chiến đấu ác liệt không lấy được thi hài…Giòng chữ này đã làm mẹ tôi vật vã hàng chục năm trời vì đau đớn và vì thương em…

Đầu năm 1985, tôi đã đánh đường lên tận Hà Giang, tìm đến đơn vị cũ của em trai tôi là Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 để hỏi cụ thể em trai tôi hy sinh trong hoàn cảnh như thế nào?

Hồi đó chiến sự vẫn còn ác liệt, từ Hà Nội tôi bắt xe lên thị xã Hà Giang và đến ở nhờ anh em tại rạp Hạ Long, đơn vị cùng ngành điện ảnh. (Đọc tiếp…)


Phúc Lộc Thọ.

Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII đã bế mạc; trong 15 nhà văn trúng cử Ban chấp hành kỳ này, Nguyễn Quang Thiều về thứ 3 với số phiếu 509 phiếu trên tổng số phiếu bầu 667 phiếu, đứng sau Hữu Thỉnh và Nguyễn Trí Huân…

Như vậy, việc Thiều đạt số phiếu cao chứng tỏ đa số đông hội viên đã nhìn thấy và tín nhiệm năng lực của Thiều; với số phiếu cao này, Nguyễn Quang Thiều được cử vào vị trí Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII. Nói theo ngôn ngữ chính trường thì Nguyễn Quang Thiều là một “ngôi sao” đang lên trong Đại hội VIII, và sự đang lên này chủ yếu dựa vào năng lực của bản thân Thiều. Trong đại hội VII, ngôi sao đó là Trần Đăng Khoa, kỳ này Khoa chịu sức ép của một số “nghĩa binh” nên đành xin rút, mặc dù có chỉ số giới thiệu tín nhiệm cao.

Nếu quan sát những động thái của sân chơi văn học thì với vị trí Phó Chủ tịch, chắc chắn Nguyễn Quang Thiều sẽ đảm trách Tổng Biên tập báo Văn Nghệ, một cơ quan ngôn luận quan trọng mang ý nghĩa mặt tiền của Hội Nhà văn hiện đang rơi vào tình cảnh xập xệ, chợ chiều và Nguyễn Trí Huân-Tổng Biên tập đương nhiệm đã và đang tìm cách “ bỏ của “ mà chạy lấy người bởi: tiraj đang xuống thấp và hình như đang sa vào cảnh nợ nần…Tờ Văn Nghệ đang mất dần bạn đọc và trong Đại hội lần này, một biên tập viên của báo đã phải cất lên những lời thống thiết về hoàn cảnh chợ chiều, hom hem, mòn mỏi, già cỗi của báo Văn Nghệ và của quân cán đang làm việc tại đây. (Đọc tiếp…)

8-900 hội viên ai người lớn ?

6-7 chục tuổi đầu vẫn trẻ con !

Phạm Viết Đào.

Đại hội Hội Nhà văn VN lần thứ tám nếu tính từ chiều ngày 4 với cuộc họp đảng viên và bế mạc vào chiều ngày 6/8/2010, Đại hội diễn ra trong vòng 2 ngày rưỡi; Tham dự đại hội ó 736 trên tổng số 923 đại biểu; trong đó có 623 đại biểu là đảng viên…Đại biểu dưới 40 tuổi trên dưới một chục người còn phần đông từ 50 tới 70 tuổi…

Theo dõi không khí đại hội và những chuyện xảy ra tại không gian đại hội thấy Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra gần giống như một “xới vật” làng; một cái làng có nhiều đám trẻ choai choai, ít công ăn việc làm, cứ đụng đến chuyện gì, trái ý nhau một tí, chưa hiểu nhau, thế là chẳng ai chịu ai, chẳng ai nhường nhịn ai lao vào vào vật nhau…

Tại Đại hội nhà văn lần thứ VIII đã xảy ra mấy kiểu, dạng vật nhau rất khôi hài và mất nhiều thời gian của đại hội, có người bảo là căng thẳng, nhưng có người lại khoái cho đó là vui, mới là đại hội văn:

1/Vật nhau giữa Đoàn chủ tịch với các Hội viên về việc bầu Đoàn chủ tịch điều hành Đại hội:

Khi bàn đến các thể thức bầu chủ tịch Đoàn, bầu Đoàn thư ký, một thủ tục hành chính buộc phải có thế mà đã xảy ra chuyện đôi co giữa nhà thơ Bùi Minh Quốc với Chủ tịch Đoàn; Cả hội trường vỗ tay tán thành phương thức và cơ chế bầu ra cái đám ngồi chịu trận trên Chủ tịch Đoàn do Ban chấp hành đề xuất. Đa số các nhà văn đều nghĩ: ai ngồi lên chủ tịch đoàn cũng được, khổ chứ báu gì, vênh vang gì, thế nhưng nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng lại có ý kiến, đề nghị thay đổi, để những ý kiến mà Ban chấp hành đề xuất là không dân chủ. Thế là lại phải sử dụng đến giơ tay biểu quyết, đến sức mạnh của số đông, tức là kéo cả làng ra để giải quyết một việc nhỏ.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc…

(Đọc tiếp…)

Blog Phamvietdaonv: Một Blogger có nick i_love_you, you_know? <i_just_want_to_say_love@yahoo.com cho biết, bạn là người tham gia biên soạn trang Website: quansuvietnam.net, cung cấp cho chủ Blog và đề nghị đưa một số thông tin sau đây; Đây là những thông tin nhằm để giúp bà con cư dân mạng có thêm thông tin từ phía Việt Nam về cuộc chiến xảy ra tại Cao điểm 1509 tại Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang năm 1984…

Lĩnh vực thông tin kể cả trên mạng là một cuộc chiến, do vậy nếu chúng ta không chủ động tìm cách công bố chúng ta sẽ bị tụt hậu, chúng ta sẽ bị hiểu sai.

Hiện nay về phía Trung Quốc, ngoài tiếng Trung Quốc, họ còn có những trang mạng bằng tiếng Anh, trong khi đó chúng ta ngay bằng thông tin bằng tiếng Việt cũng lại rất thưa thớt…

Trên tinh thần hướng tới và mong muốn tiếp cận sự thật, xin giới thiệu với bà con những ý kiến trao đổi lại loạt bài vừa qua, là loạt bài được sử dụng nguồn thông tin từ phía Trung Quốc và Nhật Bản… (Đọc tiếp…)

Blog Phamvietdaonv: Sau khi Blog Phamvietdaonv đưa lên loạt bài do anh Hà Minh Thành một Việt kiều tại Nhật cung cấp được dịch từ mạng tiếng Anh của Trung Quốc; một bài được sử dụng làm tư liệu giảng cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội-Đại học Phòng vệ- Cục phòng vệ Nhật Bản. Tác giả là ông Nakamura Masanori, từng là Tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Nhật ở VN dưới quyền của Đại sứ Tsutsumi Koichi, đại sứ  Matano Kachigeaka, Đại sứ Asomura Kuniaki. Ông đã đến Hà Giang và Lạng Sơn để thị sát, nghiên cứu tình hình chiến sự, một người rất am tường về Việt Nam. Khi đưa bài này lên, người dịch và chủ Blog đưa bài đã ghi rõ nguồn của bài, không hề “ ăn cắp” hay có ý làm “bồi bút”  theo luận điệu của “phe dân chủ” nào đó như một số vị đã sử dụng những lời lẽ xúc phạm, thóa mạ một cách khiếm nhã nếu không muốn nói là lếu láo như một số comment mà chủ Blog đã buộc lòng xóa đi… (Đọc tiếp…)

( Phần còn lại )

Tác giả: Nghiên cứu viên Nakamura Masanori ( 1 )

Hà Minh Thành dịch

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội-Đại học Phòng vệ– Cục phòng vệ Nhật Bản.

5/Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam; Lực lượng tình báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt Nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa. Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt Nam với chiến thuật biển người, cận chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 28.07.2010

ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VUI ĐÁO ĐỂ

Ngô Minh

Tôi là nhà văn đã dự liên tục 4 kỳ đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam (4, 5, 6, 7). Đối với tôi, ấn tượng nhất là Đại hội IV họp 6 ngày, từ 26/10đến ngày 1/11/1989 tại Hội trường Ba Đình. Tôi đã ghi tốc ký đầy một cuốn sổ tay. Trong Đại hội này các nhà văn đã bàn nhiều chuyện rất nghiêm túc như không nên có một phương pháp sáng tác duy nhất , tự do sáng tạo, đổi mới văn chương, nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về Văn hoá văn nghệ,  về việc đổi mới  của báo Văn Nghệ , tạp chí Sông Hương . Đại hội bầu trực tiếp Tổng thư ký Hội, quy định một người không giữ chức Tổng thư ký quá  hai nhiệm kỳ, thông qua điều lệ mới .v.v..Nhưng , nhân Đại hội Nhà văn VIII sắp họp, tôi muốn  kể những chuyện rất lạ, rất vui mà chỉ có Đại hội Nhà văn mới có.

MẤT NỬA NGÀY BẦU CHỦ TỊCH ĐOÀN

Nhà văn Nguyễn Đình Thi, Tổng thư ký ( TTK) Hội Nhà văn khoá 3 xin Đại hội trù bị  biểu quyết cho số lượng chủ tịch đoàn Đại hội 5 hay 7 người và đưa ra  danh sách Chủ tịch đoàn dự kiến  do BCH cũ giới thiệu gồm , nhưng lại kê sẵn 7 cái ghế Chủ tịch đoàn (CTĐ). Thế là  tranh luận . Nhà văn Dương Thu Hương:” Ban chấp hành đưa ra danh sách ngay từ đầu là thiếu khiêm tốn. Đại hội sẽ bầu ra  già làng của mình”. Nhà văn Nguyễn Quang Thân :”tôi rất lo lắng cho sức khoẻ của  CTĐ, nếu theo danh sách đề nghị của BCH cũ”. Ý nói CTĐ toàn người già .Thế là chuyện già trẻ thành vấn đề tranh cãi. Nhà văn Vũ Thị Thường nói :” Nhà văn phải thương nhau . Đùng áp đảo người già. Thế là ác. 30 năm nữa các anh cũng thành cụ”. Nhà thơ Ý Nhi lên tiếng :” Đẩy vấn đề sang thiện-ác như chị Vũ Thị Thường là không đúng”. Nhà thơ Tạ Vũ ngất ngưỡng  rươụ bước lên  diễn đàn chỉ nói một câu rồi lại ngất ngưỡng về :” CTĐ cũng sai. Sai quá đi chứ !”. Cả hội trường cười ồ. .Rồi tranh luận CTĐ cần  cơ cấu  hay không cơ cấu cũng mất cả tiếng đồng hồ. Tranh luận về nguyên tắc bầu cử giơ tay hay bỏ phiếu kín. . Tranh luận  căng thẳng tới mức, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn nói :” Đại hội ta rất vui, rất có ý nghĩa . Nên mua  cái catsett để ghi lại”. Nói năng qua về rồi cuối cùng  cũng  thống nhất được một danh sách  9 người để bầu 7 vị CTĐ. Bầu  bằng  giơ tay và đếm. Đến đây  thì sinh  một chuyện gay cấn. Nhà văn Tô Hoài, đã có  vé đi Cai-rô ( Ai-Cập) . Ngày mai bay,  lại có tên trong danh sách chủ bầu CTĐ, nhưng ông không  rút. Các nhà văn Nguyễn  Kiên, Nguyễn Quang Lập :” Chuyến đi của anh Tô Hoài là có thật. Đề nghị anh làm rõ”. Nhà văn Tô Hoài :” Tôi đã nhận trước BCH, tôi không có ý kiến rút. Công việc của tôi tôi sẽ báo cáo với BCH”. Cuối cùng thì cũng thống nhất bầu CTĐ bằng giơ tay. Các nhà văn trúng CTĐ là :Nguyễn Đình Thi, Trần Bạch Đằng, Chu Văn, Lương Quy Nhân, Phan Tứ, Lê Minh, Ý Nhi, Cao Tiến Lê. Mới  khởi đầu mà đã gay go thật. Nhiều nhà văn  ngồi CTĐ Đại hội IV ấy  bây giờ đã thành người thiên cổ.Nhớ lắm. (Đọc tiếp…)

Tác giả: Nghiên cứu viên Nakamura Masanori

Hà Minh Thành dịch

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.

Cục phòng vệ Nhật Bản-Đại học Phòng vệ.

https://i2.wp.com/www.vietnamexodus.org/vne/vneimages/laoson/dinh1509.jpg

Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là ” MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội ?

https://i0.wp.com/img329.imageshack.us/img329/2343/daituongvantiendungaiz3.jpg https://i2.wp.com/english.pladaily.com.cn/special/figures/sj/ydz-1.jpg

Ảnh chân dung: Đại tướng Văn Tiến Dũng và Đại tướng Trung Quốc Dương Đắc Chí; Đối thủ của nhau trong cuộc giao chiến tại Cao điểm 1509 ( Lão Sơn ) năm 1984…

Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn. (Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/www.vietnamexodus.org/vne/vneimages/laoson/dinh1509.jpg

NHẰM CHIẾM LẠI CÁC CAO ĐIỂM 1509 TẠI THANH THỦY, HÀ GIANG BỊ TRUNG QUỐC CHIẾM GIỮ…

-Việt Nam đã thất bại trong trận này do đã bị phản bội bởi một sĩ quan cao cấp trong Cục Quân báo Việt Nam; tên này đã bán thông tin chi tiết về kế hoạch hành quân tái chiếm Núi Đất ( Cao điểm 1509 ) cho tình báo Trung Quốc ?  ( Thông tin từ phía Nhật Bản )…


– Một người lính tên là Nguyễn Văn Nam thuộc Sư đoàn 313 của Việt Nam, trước khi bị phía Trung Quốc đẩy xuống hố thiêu sống, anh đã gửi lại 1 cuốn nhật ký cho 1 người lính Trung Quốc tên là Vương Hoàn Hải; hiện cuốn nhật ký đó đang được anh trai của Vương Hoàn Hải giữ và anh ta mong muốn trả lại cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Nam. Ảnh chụp anh trai Vương Hoàn Hải cầm trong tay cuốn nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Nam.

Phạm Viết Đào.


Hàng năm, cứ vào dịp cuối tháng bảy dương lịch, tức ngày 13-14 tháng 6 âm lịch, gia đình tôi lại làm giỗ thắp hương cho chú em là liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, đã hy sinh trong trận tiến đánh các cao điểm bị Trung Quốc chiếm tại Thanh Thủy,Vị Xuyên, Hà Giang…Dịp này, gia đình tôi vẫn thường nhận được sự thăm hỏi của bà con, bạn bè nhất là đồng đội cũ của chú em tôi. Nhất là sau khi tôi đưa lên mạng bài viết:Tôi đưa linh hồn em trai tôi-liệt sĩ Phạm Hữu Tạo từ Hà Giang về quê…thì hàng năm có thêm nhiều thư từ gửi tâm nhang tới gia đình tôi vào dịp này. (Đọc tiếp…)

Phạm Viết Đào.

Đại hội điện ảnh lần thứ VII tổ chức trong 3 ngày 20,21,22/7/2010 tại Cung hữu nghị Việt Xô được tổ chức hoành tráng về trang trí, hình thức, nhưng lại nghèo, tẻ và không thiết thực về các nội dung được đưa ra bàn thảo tại đại hội. Âu đó cũng là dấu hiệu nội suy của một ngành nghệ thuật từng một thời vang bóng nhưng giờ đang lâm vào cảnh chợ chiều, rã đám. Theo dõi đại hội thấy lèo tèo các quan chức của các cơ quan chức năng đến dự, thảng hoặc có đến thì cũng là đến chiều lệ rồi lặn mất tăm để cho những người làm điện ảnh tự nói tự nghe với nhau. Nhiều đại biểu tham dự đại hội ngơ ngác bảo nhau: chắc điện ảnh hiện nay giống với tình cảnh của những anh chàng sa cơ lỡ vận, làm ăn thất bát; nhà có kỹ giỗ có đánh tiếng mời hàng xóm đến dự nhưng rồi người ta đều tìm cách thoái thác không đến, tránh xa để khỏi phiền. Người ta phải giữ khoảng cách với anh nghèo túng, sợ gần gũi thâm tình thì khó xử ngỗ nhỡ anh nghèo vác rá sang vay, xin…

(Đọc tiếp…)

-Điện ảnh, truyền hình Việt Nam đang để người ta cướp mất khoảng 20-30.000 tỷ đồng lợi nhuận /năm từ “cánh đồng” nghe nhìn thuộc quyền làm ăn của mình !


( Tham luận giành cho Đại hội Điện ảnh lần thứ VII, tổ chức tại Hà Nội từ 20 tới 22/7/2010 )

Phạm Viết Đào.

Tình cảnh của những người làm công tác điện ảnh giống như những người nông dân tại các khu công nghiệp hiện nay, do bị các doanh nghiệp nước ngoài thu mất đất, mất tư liệu sản xuất, trắng tay nên đã trở thành bần cố nông. Để duy trì sự tồn tại thôi thì hàng ngày vật vờ đây đó kiếm cái ăn qua bữa…

Vậy cái tư liệu sản xuất chính của người làm điện ảnh là thị trường nghe nhìn đã bị cướp như thế nào và vì sao bị cướp, xin có mấy lời dẫn giải sau đây.

(Đọc tiếp…)

ĐẢNG CẦM QUYỀN HAY CỦA CHÍNH THỂ ĐƯƠNG NHIỆM !

Thiên chức chính trị của nhà văn là tự gieo, gặt trên “thửa ruộng-tâm hồn” của dân tộc mình !

Phạm Viết Đào.

Trước hết chúng ta phải hiểu với nhau một thực tế khách quan: Làm gì có tự do tuyệt đối ở dưới gầm trời này; nếu ở đâu đó nói có tự do tuyệt đối thì hãy coi chừng ở đó có khi tự do đã mất hoàn toàn. Hãy thử lên trời, hãy thử lặn xuống biển hay hãy chui vào rừng rậm để sống xem, ở đó có tự do tuyệt đối không ? Cảm ơn bạn Phạm Cường, Việt kiều ở CHLB Đức vừa comment bố sung cho bài viết về một số định nghĩa về từ Chính trị gốc tiếng Trung Hoa, ý kiến rất sâu sắc và xin bổ sung vào bài viết. Chính trị chiết tự nguyên nghĩa theo chữ Hán viết (政治) thì: – Chữ Chính bên trái có nghĩa Ngay thẳng, bên phải là bộ phác hàm ý Hành động – Chữ Trị cũng gồm hai phần: bên trái là bộ Thủy là nước, bên phải là phần âm để đọc là Trị. Theo nghiã đen, Trị có nghĩa dùng thuốc trị bệnh và chữ Trị thuộc bộ Thủy là bởi lúc ban sơ người Trung Hoa chữa bệnh thường dùng thuốc sắc bằng thảo mộc nấu trong nước. Về sau, chữ Trị đã mở rộng nghiã và hàm ý, chỉ việc trừng phạt những phần tử hủ bại xấu xa làm lành mạnh xã hội. Như thế theo nghĩa gốc thì Chính trị nói chung là việc làm cho xã hội ngay thẳng, lành mạnh. Trong Luận ngữ, Nhan Uyên 7 – Khổng Tử, khi trả lời Quí Khương Tử hỏi ông về Chính trị, Khổng tử đã chiết nghĩa theo đúng từ nguyên bản mà bảo rằng: “Chính giả, chính dã, Tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính?„ (“Chính trị làm cho ngay thẳng mà sai khiến người thì còn ai dám không ngay thẳng?„) Còn người Tây Phương thì cũng quan niện về chính trị không xa với người Phương Đông (Khổng Tử) làm bao: “Chính trị là sự điều khiển ngay thẳng nhiều gia đình và những gì chung cho các gia đình ấy với một quyền lực chủ tể„ (theo bản dịch của GS Nguyễn Ngọc Huy từ nguyên bản: “République est un droit gouvernement de plusieurs ménages et de ce qui leur est commun, avec puissance souveraine„ – Trong bộ sách Republique của học giả nổi tiếng của Pháp TK 16 tên là JEHAN BODIN). Vậy thì tại sao nhà văn Việt Nam lại hô hào, từ bỏ, khước từ thiên chức chính trị của văn học,tức là khước từ việc tham gia cùng nhân dân đấu tranh làm cho xã hội trở nên ngay thẳng hơn bằng phương tiện văn học, một phương tiện có khả năng tác động sâu rộng vào lòng người? Nếu nhà văn từ bỏ thiên chức chính trị của văn học, đứng về phương diện công dân thì nhà văn đã vô tình xếp mình, hạ mình làm loại công dân hạng hai ? (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 17.07.2010

CHÍNH TRỊ KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ ĐỘC QUYỀN CỦA:

ĐẢNG CẦM QUYỀN HAY CỦA CHÍNH PHỦ ĐƯƠNG NHIỆM !

( Phần 1 )

Thiên chức chính trị của nhà văn là tự gieo, gặt trên “thửa ruộng-tâm hồn” của dân tộc mình !

Phạm Viết Đào.

Theo định nghĩa của một số từ điển, thì nghĩa rộng của chính trị đó là: tổ hợp các chính sách, đối sách hoạt động, có định hướng của con người, của các tổ chức, đoàn thể, nhà nước, của các chính đảng chính trị đối với xã hội đối nói chung và đối với môi trường thiên nhiên xung quanh…

Nói một cách nôm na, chính trị là tổ hợp tất cả những “ luật chơi “ do một thể chế chính trị ( có thể là quốc gia, vùng lãnh thổ, một chính đảng hay một hội đoàn thể…) ban hành để tập hợp, điều chỉnh và chi phối mọi hoạt động trong cộng đồng đó.Một thể chế chính trị có khi do sự chi phối của một đảng cầm quyền hay sự chi phối của một liên minh của nhiều đảng phái chính trị; tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ, chính trị được chi phối bởi một vài tôn giáo như một số nước trung đông. (Đọc tiếp…)



Thủ thành Casillas đã phải làm việc khá vất vả sau những pha dứt   điểm của đội tuyển Hà Lan

Thủ thành  Casillas người hùng của đội Tây Ban Nha

Phạm Viết Đào.

Có thể xem trận cầu chung kết bóng đá thế giới diễn ra tối qua  một trận cầu không đẹp mắt cho dù cả hai đội đều triển khai đội hính bóng đá tần công. Đội Hà Lan triển khai đội hình 4-2-3-1; còn đội Tây Ban Nha triển khai đội hình 4-3-3…

Khi vào trận cả hai đội nhất là đội Hà Lan đã có quá nhiều những hành vi phi thể thao, nói theo ngôn ngữ Luật Hình sự Việt Nam là phòng vệ, tấn công quá mức cho phép: 13 thẻ vàng trong đó 9 thẻ giành cho đội Hà Lan, 4 thẻ giành cho đội Tây Ban Nha; cầu thủ của đội Hà Lan Heitniga do nhận 2 thẻ nên đã bị truất quyền thi đấu.

Trận cầu chung kết này phải chăng đã phản ánh đúng bộ mặt tinh thần của trật tự thế giới thế giới thế kỷ XXI: Để đạt tham vọng nào đó, kể cả trong thể thao, con người vẫn còn phải tiếp tụng sử dụng tới ngón đòn bạo lực chăng ? (Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/farm2.static.flickr.com/1035/906276964_e5d902bec2.jpg
CHÍNH PHỦ TROẠNG VỤ VINASHIN MẤT 80.000 TỶ; HÀ NỘI ĐÌNH ĐÁM 1000 NĂM TO QUÁ HẾT MẤT TIỀN NÊN PHẢI TĂNG HỌC PHÍ LÊN GẤP 5 LẦN, BÀ CON RÁNG CHIA SẺ ?!

Hai Xe Ôm.

Vnexpress vừa đưa tin:”Một trong những nội dung bàn thảo ở kỳ họp HĐND giữa năm của Hà Nội vào tuần tới là nghị quyết thu, sử dụng học phí ở trường học phổ thông công lập. Trong đó, mức tăng đối với học sinh ở nội thành lên tới 4-5 lần…”

Đọc xong đoạn tin này Hai Xe Ôm tôi tự nhiên thân thấy cứ bần thần cả người. Không phải vì Hai Xe Ôm đang có con đang ở độ tuổi đi học nên phải sờ nắn túi mình. Theo Hai Xe Ôm thì đây là một chủ trương, một sự tính toán không lấy gì làm thông minh, không kinh tế, không xã hội chủ nghĩa một tẹo nào hết của các cơ quan công quyền Hà Nội, do vậy nên không hợp lòng dân.

Không nhẽ Hà Nội đang bí bách về tiền đến mức phải tính chuyện tăng học phí mà lại tăng đến 4-5 lần trong dịp kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long mới kinh; Đây là hành động nâng cao dân trí hay bóp nghẹt dân trí ? Hay do sau vụ Vinashin, Chính phủ không còn đủ tiền cấp cho hoạt động giáo dục Hà Nội nên phải tìm cách tăng học phí, moi của người nghèo để bù vào? (Đọc tiếp…)

https://i0.wp.com/a8.vietbao.vn/images/vn875/xa-hoi/75007676-16751_truong_chi_trung2.jpg

LÀ VI PHẠM LUẬT CÔNG CHỨC 2008 VÀ NGHỊ ĐỊNH 35/2005/NĐ-CP, NGHỊ ĐỊNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Phúc Lộc Thọ.

– Theo tin của Báo Điện tử Chính phủ, ngày 3/7/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký các quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại có thời hạn 5 Thứ trưởng các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Nội vụ, Tư pháp và Y tế.

Ông Trương Chí Trung, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn, được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.

Việc bổ nhiệm này đã vi phạm Mục 2, Điều 82 của Luật Công chức và Mục 2, Mục 3 của Điều 27: Các quy định liên quan đến cán bộ, công chức bị kỷ luật của  Nghị định 35/2005/NĐ-CP về việc xử lý cán bộ công chức.

Mục 2 của Điều 27 quy định:”Cán bộ công chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ khiển trách đến cách chức thì không được nâng ngạch hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất là một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật..” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 02.07.2010

5 CỔNG CHÀO ĐÓN MỪNG ĐẠI LỄ 1000 NĂM THĂNG LONG:

NHỮNG CHIẾC “QUẠT MO” CỦA CÁC “CHÚ BỜM” QUẢNG CÁO ĐẤT HÀ THÀNH THỜI NAY ?!

Phúc Lộc Thọ.

Dư luận đang bàn tán ầm ỹ lên về vụ Hà Nội dự kiến huy động 50 tỷ do các doanh nghiệp đóng góp để xây dựng 5 cái cổng chào thật hoành tráng để đón chào đại lễ 1000 năm Thăng Long?

Tại sao lại ẫm ĩ chuyện này: người ta tự nguyện bỏ tiền ra để làm đẹp cho thủ đô, góp tiền của để làm cho đại lễ thêm hoành tráng sao lại không ủng hộ, lại bàn ra tán vào? Vậy đằng sau có gì khuất tất không ? Có đấy ! Đây về thực chất lại là một vụ đổi đất lấy…cổng chào; là vụ các chú Bờm làm nghề quảng cáo đất Hà Thành dùng cổng chào, một dạng “quạt mo” để lừa lấy cúa phú ông Hà Thành không chỉ ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, ba bè gỗ lim mà nhiều hơn thế: Đó là lô đất ở các vị trí đắc địa vào loại bậc nhất của Hà Nội, ở những nút giao thông cửa ngõ của thủ đô để làm quảng cáo… (Đọc tiếp…)

Phúc Lộc Thọ.

( Mời bà con bình chọn bổ sung thêm… )

1.Phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm Hải Phòng và đảo Bạch Long Vĩ về bảo vệ chủ quyền biển đảo:

Trong chuyến thăm và làm việc tại thành phố Hải Phòng từ ngày 30-3 đến 1-4, được 2 tàu hải quân hộ tống, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã đến thăm đảo Bạch Long Vĩ, nói chuyện với quân dân trên đảo, Chủ tịch nước khẳng định: “Dù là đảo nhỏ nhưng Bạch Long Vĩ là tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và là hòn đảo tiền tiêu có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh quốc phòng lẫn kinh tế – xã hội.

Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình. Khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, quyết tâm không gì lay chuyển được của Đảng, Nhà nước. Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng”. (Đọc tiếp…)

Phạm Viết Đào.

– “Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức được thành lập để tập hợp, cổ vũ, khuyến khích, phát hiện, đánh giá, ghi nhận các tìm tòi, đổi mới trong hoạt động sáng tạo văn học. Tổ chức HNVVN là tổ chức thành lập nhằm mục đích phát triển sự nghiệp sáng tạo văn học Việt Nam. Sự nghiệp văn học của các nhà văn đó là: bằng ngòi bút của mình, nhà văn nói lên tiếng nói, những khát vọng, những suy tư trăn trở có thật từ trong đáy lòng của nhân dân mình, của nhân loại… trong thời đại mà nhà văn đang sống…”


Đọc Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam ( dự thảo ) ( ĐLHNVVN)  đang được gửi xin ý kiến đóng góp của các hội viên, xin có mấy đóng góp sau đây: (Đọc tiếp…)

Phúc Lộc Thọ.

https://i2.wp.com/www.moscowtopnews.com/image/article/1/8/4/184.jpeg

-Lời tuyên bố của BT Bộ giao thông Nhật không giá trị hơn một “cọng rơm vàng “’…

– Lương thực và thực phẩm thế giới sẽ tăng giá tới 40 % cho tới năm 2019;

– 58 % người Mỹ tin: Chiến tranh thế giới sẽ nổ ra sau 40 năm nữa; 53% người Mỹ cho rằng: Mỹ sẽ là nạn nhân của khủng bố hạt nhân trong cuộc chiến này; ( Thăm dò này trùng với ý kiến của nhà tiên tri thế kỷ XV của Pháp: Nostradamos )…

-Nhà ở tại Mỹ giảm giá tới 33 %, giảm sức mua 32 % trong năm 2010 mặc dù được Chính phủ Mỹ hỗ trợ từ 6500 tới 8000 USD cho người mua… (Đọc tiếp…)

VỠ TRẬN “, SỤP ĐỔ NHANH TRONG TRẬN GẶP BỒ ĐÀO NHA ?!

Phạm Viết Đào.

Ảnh: Jong Tae Se, đội tuyển CHDCND Triều Tiên đã ngẩng cao đầu bật khóc trong trận gặp Brazil…
Tôi chăm chú theo dõi trận Bắc Triều Tiên gặp đội anh tài số 1 của thế giới Brazil và đội Bồ Đào Nha một phần vì tò mò: xem đội bóng châu Á này xoay xở như thế nào khi chẳng may bốc thăm lại rơi vào bảng tử thần. Tôi muốn xem đội bóng Bắc Triều Tiên đá là muốn được xem đội bóng của một quốc gia mà người dân đang sống trong “ bức màn sắt “ ngột ngạt- một đất nước đang bị bao vây cấm vận, thiều thốn đủ bề từ vật chất đến những quyền tự do con người…Tôi muốn chứng kiến họ chơi như thế nào để xem: thể chất, trình độ và ý chí của người Bắc Triều Tiên trong cuộc đối thoại với thế giới thông qua môn thể thao vua. (Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/www.moscowtopnews.com/image/article/1/8/4/184.jpeg

-Cá nhân, cơ quan tham gia ban hành văn bản luật có vi phạm luật ?

-Chỉ số IQ, quyết tâm chính trị làm đường cao tốc của 21 đại biểu Quốc hội có bị lung lạc bởi được bao đi thăm, khảo sát Trung Quốc ?


Phạm Viết Đào.

Báo Tiền Phong vừa đưa tin: Tổng Công ty Đường sắt là cơ quan chủ đầu tư của Dự án tàu cao tốc Bắc-Nam đã mời 21 đại biểu Quốc hội của 21 tỉnh thành đi tham quan đường sắt cao tốc của Trung Quốc. (Đọc tiếp…)

https://i1.wp.com/phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/889/340889.jpg

PHÓ THỦ TƯỚNG NGUYỄN SINH HÙNG NÓI ĐÙA HAY THẬT ?

Phúc Lộc Thọ.

Khi Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát ra câu này này tại tại phiên họp Quốc hội toàn thể sáng ngày 12/6/2010, trong kỳ họp có nội dung bàn về chủ trương xây dựng đường sắt cao tốc của Chính phủ; cử tri thấy nhiều đại biểu Quốc hội nhoẻn miệng cười vô tư như những ông Phật trong chùa. Trong khi một số đại biểu, người do cử tri bầu, thay mình bàn và quyết định các vấn đề  liên quan tới sinh mệnh, danh dự, tài sản của quốc dân tại diến đàn Quốc hội vô tư “cười nụ” thì người ngoài, tức là cử tri xem cuộc họp này được truyền hình trực tiếp lại cảm thấy nhói tim, lại “khóc thầm”; cử tri thấy đau về ý kiến trên lắm bởi nếu họ mà sai thì sẽ bị trừng phạt và trả giá ngay lập tức, họ đâu có được tự do như quan chức Chính phủ…( Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm-Kiều… )

Ý kiến trả lời chất vấn này của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng sao mà gần giống với câu nói của Tổng thống bù nhìn Việt gian bán nước Nguyễn Văn Thiệu khi sắp bỏ chạy khỏi Việt Nam? Chả nhẽ bối cảnh kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay cũng giống với giai đoạn đầu những năm 70 của thế kỷ trước? Đó là khi mà chế độ Việt Nam cộng hòa đang ngụy ngập, hấp hối và sắp sụp đổ vì tham nhũng, vì đám quan chức ngụy quyền cam tâm làm tay sai cho ngoại bang… (Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/vovnews.vn/Uploaded_VOV/dangkhanh/20090611/Bo-truong-Cao-Duc-Phat.jpg

DỐT NÊN PHẢI CHẤP NHẬN THẢM CẢNH: QUÝT LÀM CAM CHỊU !

Phạm Viết Đào.

1/”Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn Cao Đức Phát, cuối năm 2009 có 10 địa phương chủ trương cấp phép 305.353 ha đất trồng rừng cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng trên thực tế, việc cho thuê đất trồng rừng thời hạn 50 năm chỉ thực hiện 15.664 ha. Do đó, thông tin cho rằng Chính phủ cấp phép cho thuê đất rừng với diện tích 305.353 ha là thiếu chính xác ?”

Bộ trưởng Phát giải thích các địa phương đã cấp giấy chứng nhận đầu tư, không có nghĩa toàn bộ 305.353 ha đã được giao, mà trên cơ sở giấy này, nhà đầu tư phối hợp với chính quyền huyện, xã, khảo sát làm rõ từng khu đất cụ thể, chỉ giao khi đất đó đủ điều kiện.

-“Bộ trưởng NN&PTNT cũng cho hay theo Luật đầu tư và Luật đất đai, UBND cấp tỉnh mới là nơi xét duyệt dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, các bộ “chỉ có ý kiến khi được địa phương yêu cầu“.”

Bình Luận ( BL): BT Cao Đức Phát phát biểu như vậy là chưa hiểu và làm tròn phận sự của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã được quy định tại Điều 1 của Luật Tổ chức Chính phủ 32/2001/QH10 – Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật”; Tại Điều 8 của Luật quy định” Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:”1. Lãnh đạo công tác của các bộ, các cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống bộ máy hành chính nhà nước thống nhất từ trung ương đến cơ sở…” (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 11.06.2010

TÌM HIỂU VỀ ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC

https://i2.wp.com/www.moscowtopnews.com/image/article/1/8/4/184.jpeg

Nguyễn Hải Hoành


Có người nói đường sắt cao tốc (ĐSCT) dù hiện đại đến mấy thì cũng như chiếc ô tô Lexus hoặc chiếc máy bay Airbus 380 là cùng, ta cứ mua về là dùng được thôi, có gì phải lo nhỉ.
Người viết bài này đã làm ĐS 30 năm và bắt đầu nghiên cứu ĐSCT từ năm 1970, cũng từng đi tàu cao tốc ICE ở châu Âu, nhờ thế nên có thể dám nói: sử dụng ĐSCT khó trăm lần so với việc dùng chiếc Lexus hoặc Airbus 380; còn nói về xây dựng, khai thác, quản lý ĐSCT thì có thể khẳng định ít nhất 50 năm nữa ta mới đủ điều kiện làm.
Xin chia xẻ với bà con và nhất là với các vị đang muốn làm ĐSCT xuyên Việt một suy nghĩ: ĐSCT chẳng những khó làm mà làm rồi còn khổ hơn không làm.
Ngành ĐS nước ta vào loại lạc hậu nhất thế giới, cả nước có 2500 km ĐS thế mà định đốt cháy giai đoạn làm con ĐSCT dài gấp rưỡi tuyến ĐSCT dài nhất thế giới hiện nay (1000 km). Đốt cháy giai đoạn tức là đốt tiền của, công sức của nhân dân. Mấy chục km ĐS đi qua cầu Thăng Long từ ngày làm xong hầu như bỏ không ba chục năm nay là một bài học sờ sờ về khả năng “quy hoạch” của chúng ta, lãng phí bao nhiêu nghìn hec ta đất thượng đẳng điền, nhưng các vị hữu trách cũng chỉ tặc lưỡi cho qua. (Đọc tiếp…)

Đăng ngày: 16:14 10-06-2010

Thư mục: Thế sự 24/24

https://i0.wp.com/i611.photobucket.com/albums/tt199/pantasa/Xahoi/1633-050-AB1FAD82.jpg

Phạm Viết Đào.

Trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước, rừng đối với dân tộc Việt Nam có một vị trí vô cùng trọng yếu không chỉ bởi đây là nơi cung cấp lâm thổ sản mà còn là cái nôi để nhiều triều đại sinh cơ lập nghiệp, gây dựng cơ đồ chống lại các thế lực ngoại bang lớn mạnh hơn mình nhiều lần…

Trong cuộc họp báo chiều ngày 3/3/2010, ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng tuyên bố với báo giới:” Việc đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đều tuân thủ theo các quy định của pháp luật.Nước ta đất chật người đông, giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập cho dân là vấn đề rất quan trọng. Các địa phương cần tính toán chặt chẽ với các dự án đầu tư, nhất là ở những vùng liên quan đến an ninh quốc phòng”, ông Phúc nói. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lưu ý, đây là lý do để yêu cầu lãnh đạo các tỉnh phải xem xét từng dự án.Liên quan đến các kiến nghị của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, ông Phúc cho biết, Chính phủ đã họp cả ngày hôm qua để thảo luận và sẽ tiếp tục họp vào ngày mai để thống nhất biện pháp giải quyết. (Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 08.06.2010

TRUNG QUỐC-VIỆT NAM ĐANG CHƠI TRÒ ĐÁNH TRẬN GIẢ ?!

Hai Xe Ôm.

Giới quan sát chính trường vỉa hè đang chăm chú theo dõi mối quan hệ qua lại giữa chính phủ hai nước Trung Quốc và Việt Nam trong những ngày gần đây, thấy đang xuất hiện nhiều động thái, nhiều dấu hiệu rất đáng lưu ý…Sau đây là một vài quan sát mang tính chất vỉa hè:

1/ Phía Trung Quốc dạo này có vẻ bớt hung đồ hơn, không bắt người cướp của ngang nhiên trên biển như thời kỳ trước đây; Các ông to bà lớn Trung Quốc thì có vẻ nhã nhặn hơn, năng lui tới Việt Nam và mời quan chức Việt Nam sang thăm Trung Quốc nhiều hơn và cũng không thấy có tuyên bố nào có ý răn đe, hăm dọa bong gió như trước đây… (Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/194/141194.jpg

Thầy Đỗ Việt Khoa đã chính thức viết đơn xin nghỉ việc; Đơn của thầy Khoa đã được Hiệu trưởng trường Vân Tảo chấp nhận và cho phép thầy Khoa không phải tham gia coi thi trong mùa thi đầu tháng 6 này. Tin này lập tức đã được ngay một tờ báo “ lề phải “, một tờ báo“ đối lập” từ trước đến nay với thầy Khoa loan tin ngay lập tức bằng một cái bài pha tin; một bài viết mà từ cái tít bài đã phô ra cả cái sự hả hê, đắc thắng, lẫn sự châm chọc cay chua đối với “người hùng” Đặng Việt Khoa, do đã tự cảm thấy thế thua nên đã chịu buông cương, xuống ngựa…Bài báo có tựa đề:” Trường PTTH Vân Tảo- Kỳ thi  “không thầy Khoa”…

https://i0.wp.com/www.vietimes.com.vn/Library/Images/8/2007/10/huu-uoc-2.jpg

Chắc ngụ ý của tác giả bài báo và của Ban Biên tập muốn thông điệp với độc giả cái ý của câu ca dao xưa: Có Khoa thì chợ vẫn đông; Không Khoa thì chợ vẫn đồng mọi khi…chăng ???

(Đọc tiếp…)

Phạm Viết Đào.

https://i0.wp.com/www.emaramures.ro/UserFiles/Image/Foto%20Romania/Cladiri_Obiective/ceausescu-mormant.jpg

Sau những cuộc đấu tranh dai dẳng về mặt pháp lý của người con duy nhất còn sống của vợ chồng ông Nicolae Ceausescu: Valetin Ceausescu, ông đã được thừa nhận là thân chủ hợp pháp của ngôi mộ chôn bố mẹ ông. Với sự thừa nhận này, Valetin Ceausescu có quyền khai quật mộ của bố mẹ ông xem có đúng thi thể của họ đã được chôn tại nghĩa trang Ghencea hay chỉ là ngôi mộ giả…

Sau khi khai quật chỉ cần một xét nghiệm nhỏ về AND thì mọi nghi ngờ sẽ được làm sáng tỏ.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 31.05.2010

CHÍN PHY LÝ TRONG QUY HOẠCH HÀ NỘI

THEO TÁC GIẢ CỦA BÀI VIẾT NÀY THÌ CƠ QUAN CHỨC NĂNG CHÍNH PHỦ THAY CHO THAM MƯU ĐIỀU KHÔN LẠI TOÀN TÌM CÁCH XUI ” DẠI ” ???

Tại kỳ họp Quốc hội này, đề án quy hoạch thủ đô Hà Nội với dự kiến Trung tâm hành chính quốc gia sẽ đặt ở chân núi Ba Vì sẽ được đặt lên bàn Nghị sự. Trước đó, đề án cũng đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân, giới kiến trúc sư, quy hoạch sư trong và ngoài nước cũng đã nhiều lần lên tiếng góp lời. Bài viết dưới đây là góc nhìn riêng của KTS Hà Thủy, sẽ có những phân tích được nhiều người đồng tình, song cũng sẽ còn một số quan điểm khác cần phải thảo luận thêm. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải để mọi người cùng suy ngẫm:

Tác giả: Hà Thủy
-Có thể có ý kiến bác bỏ việc cho rằng (việc di chuyển Trung tâm Hành chính quốc gia lên Chân núi Ba Vì) đó là “dời đô”, vì “nhiều cơ quan đầu não về chính trị và lập pháp (Quốc hội, Văn phòng Trung ương, Tòa án tối cao) sẽ vẫn ở Ba Đình”.Nhưng thực chất (với khoảng cách đường chim bay 30 – 40 km, khoảng cách dịch chuyển thực tế 50 – 60km một chiều đi) nếu duy trì mối liên hệ trực tiếp (thống nhất) của các trung tâm này với nhau còn tệ hơn về mọi phương diện.
-Đồ án  đã  gây lãng phí lớn, khi chỉ vì điều này (khu đất dự phòng) đã phải mở một trục “Thăng Long” – hệ quả của ý tưởng Trung tâm Hành chính quốc gia cách xa 30 – 40km với chi phí phải cần tới trên 10.000 tỷ đồng (trong khi phân bổ ngân sách trung ương năm 2010 chi cho Chương trình biển Đông, hải đảo, cảnh sát biển chỉ có 1.708 tỷ đồng – nguồn: Tủi cho kinh tế biển); Nếu việc lựa chọn vị trí này (Chính phủ – Trung tâm Hành chính quốc gia) sai lầm thì toàn bộ cấu trúc đô thị sẽ bị phá vỡ và con đường này sẽ không còn có ý nghĩa; Ai sẽ chịu trách nhiệm về sự lãng phí này?
-Sai lầm về khái niệm đã dẫn đến sai lầm về mô hình nhà nước; sai lầm về mô hình nhà nước đã dẫn đến sai lầm về cấu trúc đô thị; sai lầm về cấu trúc đô thị đã dẫn đến sai lầm trong giải pháp lựa chọn địa điểm và tổ chức không gian…

– Quả thực, đây là những ý tưởng khó hiểu, nửa vời, đồng nghĩa với việc tạo tâm lý bất an, tạm bợ, gây bất ổn về lâu dài (hệ lụy nhãn tiền mà chúng ta có thể thấy ngay được tại khu vực Ba Vì hiện nay). Trước mắt, tạo nguy cơ tước đi (vĩnh viễn) cơ hội mở rộng, hoàn thiện một Trung tâm Chính trị xứng tầm và ổn định ngay tại khu vực Ba Đình và phụ cận… (Đọc tiếp…)

CÁCH GÌ ĐỂ DUNG HÒA ĐƯỢC NƯỚC VỚI LỬA ?

https://i1.wp.com/tinypic.com/m96888.jpg

Phúc Lộc Thọ.

1/ Thử xem xét một số nguyên lý về Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ( KTTTĐHXHCN) trong luận thuyết của Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng (GSTSNPT)

– “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của cơ chế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” ( * )

Về nội hàm của những nguyên lý KTTTĐHXHCN được đề cập trong luận thuyết nêu trên, người am hiểu về chính trị kinh tế học nhận thấy: nó không khác những nguyên lý của cơ chế thị trường nói chung, kể cả thị trường lưu thông theo phương thức sản xuất phong kiến?! (Đọc tiếp…)

“ MỘT SỐ DẪN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ? “ Phúc Lộc Thọ.

Mới đây, Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng ( GSTSNPT ) đã công bố một công trình lý luận quan trọng được ghi rõ học hàm-học vị Giáo sư-Tiến sĩ và cả cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội của ông. Một bài được đăng trên TTXVN ( * ) và một trên báo Người đại biểu nhân dân ( ** ). Công trình đề cập tới nhiều vấn đề liên quan tới công cuộc phát triển kinh tế xã hội nước ta. Một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công trình lý luận của ông đó là: một số dẫn giải, kiến giải về khái niệm Kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong bài viết sau đây, Phúc Lộc Thọ tôi muốn được trao đổi, đàm đạo với Giáo Sư- Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận hiện được coi là hàng đầu về một số nhận thức, kiến giải về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo nhận thức chủ quan của bản thân.

(Đọc tiếp…)

– XIN GỬI BIỂU CÁC BÁC TỔNG BÍ THƯ, BÁC THỦ TƯỚNG, BÁC BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM MỖI BÁC 10 ĐIỂM ( 10/10) VÌ ĐÃ BIẾT NHU, CƯƠNG ĐÚNG CHỖ, ĐÚNG LÚC…

– XIN GỬI BIẾU BÁC NGUYỄN BÁ THANH, BÍ THƯ ĐÀ NẴNG 10 ĐIỂM NẾU BÁC KHÔNG NÓI PHÉT: CHO 500 TÀU ĐÁNH CÁ ĐÀ NẴNG HÚC ĐUỔI DÀN KHOAN TRUNG QUỐC KHOAN TRỘM DẦU TRÊN BIỂN VIỆT NAM…

Phạm Viết Đào.

Dư luận đang sôi lên một cách quyết liệt xung quang việc Chính phủ đưa ra trình Quốc hội xin chủ trương về Dự án xây dựng đường tàu cao tốc Bắc Nam, với khái toán 56 tỷ USD, chiếm ½ tổng thu nhập bình quân trong một năm vào thời điểm hiện tại.

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: phamvietdaonv | 21.05.2010

ĐẢNG VIÊN ĐCSVN NẾU VI PHẠM CÁC TỘI ÁC:

BẢN VỊ, CÁ NHÂN, BÈ PHÁI, THAM VỌNG QUYỀN LỰC, TRANH CÔNG, ĐỔ LỖI… THÌ SẼ BỊ ĐẢNG TRỪNG PHẠT, LOẠI TRỪ BẰNG KIỂU GÌ ?

Phúc Lộc Thọ.

– Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng bản vị, cục bộ địa phương, tham vọng quyền lực, tranh công đổ lỗi… là nguyên nhân chủ yếu gây ra chia rẽ, bè phái. “Bệnh này rất tai hại cho Ðảng. Nó làm hại đến sự thống nhất” và thanh danh của Ðảng. Ðó là một tội ác cần phải loại trừ ?!

( Trích diễn văn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đọc tại Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh… )

(Đọc tiếp…)

BÀ CON LƯU Ý: SAU KHI BLOG PHAMVIETDAONV BÌNH LUẬN VỀ TIN PHÓ THỦ TƯỚNG VIỆT NAM THĂM MỘT TỈNH TRUNG QUỐC; PHÓ THỦ TƯỚNG VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC ÔNG CHỦ TỊCH KHU TỰ TRỊ DÂN TỘC CHOANG THAY MẶT CHỦ TỊCH TỈNH QUẢNG TÂY TIẾP, HIỆN NAY VÀO 18 GIỜI 18/5/2010, TIN NÀY KHÔNG CÒN TRÊN CRI ? BẠN MUỐN ĐỌC TIN NÀY PHẢI VÀO GOOGLE MỚI TÌM ĐƯỢC ? CHĂC CRI CŨNG ÁI NGẠI VỀ CÁI TIN NÀY NÊN ĐÃ HẠ XUỐNG CHĂNG? TIN NÀY ĐƯỢC CRI ĐĂNG LÚC 14 G 35 PHÚT NGÀY14/5/2010 ?! CHẮC NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐÀI TRUNG QUỐC CÓ PHẦN CHỘT DẠ. HY VỌNG LẦN SAU, PHÍA TRUNG QUỐC KHÔNG GIỞ NHỮNG ” TRÒ MÈO ”  RA VỚI CÁC ÔNG NHỚN VIỆT NAM. NẾU TIẾP TỤC THÌ HÃY COI CHỪNG VỚI CÁC BLOGGER VIỆT NAM: “ĐẦY TỚ NÓ CÓ LÚ THÌ CÓ ÔNG CHỦ NÓ KHÔN”… BỞI CÁC BLOGGER VIỆT NAM VỐN CÓ TINH THẦN DÂN TỘC HƠI BỊ CAO; CAO HƠN NHIỀU QUAN CHỨC ĐANG HƯỞNG LƯƠNG VÀ BỒNG LỘC CỦA DÂN…

s

(Đọc tiếp…)

Phát động chiến tranh để mở rộng biên giới lãnh thổ trong quá khứ và mở rộng lãnh hải trong thế lỷ XXI là một phần tất yếu của “ lịch sử phát triển của đất nước Trung Hoa”. Đất nước Trung Hoa có diện tích lớn, với số lượng dân số đứng đầu thế giới như ngày nay là thành quả của tiến trình bành trướng xâm lấn của đế quốc Đại Hán đối đất đai của các nước láng giềng hàng ngàn năm nay.

Dùng chiến tranh, vũ lực để chiếm đất của lân bang là “cơn nghiền” ngấm vào trong phủ tạng của các đế chế cầm quyền của đất nước này; vấn đề là: nơi nào và lúc nào thì cho phép họ phát động chiến tranh và có khả năng thành công bằng liệu pháp chiến tranh? (Đọc tiếp…)

https://i1.wp.com/diendandulich.net/uploads/monthly_06_2009/post-10995-1244612301.jpg

Hai Xe Ôm.

Theo tin từ một số quán bia gần trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, sau bài bút ký của nhà văn Lã Thanh Tùng viết về Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên đăng trên Văn Nghệ; bài bút ký đã được một số đồng chí lãnh đạo to chuyền tay nhau đọc và khen nức nở; lần này Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam ( TKV ), là chủ đầu tư của dự án này, không biết có phải do vừa được một Ngân hàng Mỹ mở hầu bao cho vay 200 triệu USD, nên đã hứng chí nên đã lập tức mời một đoàn nhà văn gồm 6 nhà văn là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam vào thị sát, thâm nhập thực tế để viết bài ca dự án này nhân dịp ngày Quốc tế Lao động 1/5 và ngày toàn thắng 30/4.

Toàn cảnh nhà máy luyện Alumin Tân Rai- Lâm Đồng trưng ở cổng vào nhà máy có tượng hình sinh thực khí đàn bà…

Cũng theo tin từ các quán bia: Các nhà văn tham gia đi thực tế Tây Nguyên đều là những người mà tên tuổi lẫy lừng trên văn đàn Việt, chỉ cần vài dòng chữ viết ra của một nhà văn trong đoàn thôi, cũng đủ làm cho độc giả xa gần xao xuyến, mất ăn, mất ngủ…

Bạn đọc hãy chú ý đón đọc những bản tình ca mới về bauxite Tây Nguyên chắc sẽ sắp được trình làng trên Văn Nghệ, trên trang Website của Hội Nhà văn VN và Blog Phamvietdaonv xin hứa sẽ kịp thời đưa lên mạng những giai điệu ngọt ngào của bản tình ca mang âm hưởng của núi rừng Tây Nguyên này.

https://i1.wp.com/www.vnnhahang.com/HinhAnh/BaiViet/jzl3mccx.jpg

Những ống khói có hình sinh thực khí đàn ông này được xây dựng kiên cố tại nhà máy Alumin Tân Rai để không bị vỡ khi đưa vào luyện nhôm…

H.X.Ô.


Một số hình ảnh về nhà máy luyện Alumin Lâm Đồng


Hàng cọc trụ móng bêtông được đào thủ công sâu 34 m; có tổng số 2660 cọc…

https://i2.wp.com/www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh1.jpg

Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như “Đại công báo”, “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.

http://huynhphuclinh.files.wordpress.com/2009/04/xin_120702261536591193696.jpg

Phạm Viết Đào

Báo Quân đội nhân dân ra ngày Chủ nhật 4/4/2010 vừa cho đăng bài chính luận “Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình: Phòng chống “tự diễn biến” từ bên trong và bên trên” của Tiến sĩ Lê Văn Bảo; bài báo có nhiều quan điểm, lập luận khá chi là đanh, mặc dù viết chung chung. Liệu đây có là một phát súng chỉ thiên nhằm cảnh báo của báo Quân đội với các thế lực thù địch và cả đối với những ai thuộc thành phần “bên trong” và “bên trên” đang chơi canh bạc tự diễn biến hòa bình không?

Để rộng đường dư luận, Blog Phamvietdaonv xin có đôi lời tham góp nhằm: diễn nghĩa nôm na, làm sáng tỏ thêm những quan điểm đánh giá, cùng với những giải pháp của Lê Tiến sĩ và với báo Quân đội nhân dân, nơi đã đăng bài chính luận quan trọng kể trên…

(Đọc tiếp…)

– THỊ TRƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI TĂNG VÌ  KINH TẾ TRUNG QUỐC CÓ DẤU HIỆU SUY SỤP ?
– ĐÒN ĐỘC CHIÊU: MÀY ( TRUNG QUỐC ) KHÔNG CHỊU NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ, TAO ( MỸ ) SẼ PHÁ GIÁ ĐỒNG USD; ĐỂ XEM THẰNG NÀO CHẾT TRƯỚC ?
– THẾ GIỚI CHUẨN BỊ HỨNG CHỊU CƠN TAO LOẠN MỚI DO TIỀN TỆ GÂY RA !

VIỆT NAM SẼ THAM CHIẾN THẾ CHIẾN THỨ 3 NHƯ THẾ NÀO ?


Phạm Viết Đào.

Kinh tế Trung Quốc sẽ có khả năng suy sụp trong năm 2011, bởi nó đang chịu sự tác động của cái nền suy thoái chung của thị trường hàng hóa tư bản toàn cầu.

(Đọc tiếp…)


Trục số 5 theo quy hoạch vừa trưng bày tại Triển lãm Vân Hồ cho thấy: con đường ngầm xuyên Hồ Tây sẽ nối đoạn Hoàng Thành đã phá dỡ liên thông với đường Văn Cao-Liễu Giai…
Gần đây, một số nhà khoa học đã lên tiếng về đoạn đường Hoàng Hoa Thám khá dài (gần ngã cắt với phố Văn Cao) đang bị đào bới, hình như để làm cầu vượt, và cho rằng đó là di tích Hoàng thành Thăng Long. Sau đây là ý kiến của GS sử học Phan Huy Lê về vấn đề này:

1.PETROVIETNAM CÔNG KHAI PHỈ BÁNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH:

Với câu khẩu hiệu treo trước cửa PETROVIETNAM ( Tập đoàn dầu khí Việt Nam ), người đi đường với trình độ tiếng Việt thông thường có thể hiểu ” Tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh ” là thứ: ” đạo đức, văn minh trong nháy nháy ???”

Một tập đoàn kinh tế nhà nước lớn vào loại bậc nhất, thế mà dám phát động cán bộ, đảng viên, công nhân viên công khai phỉ báng Hồ Chí Minh mà không bị làm sao? Câu này nếu các nhà báo, các blogger viết ra thì rũ tù !

(Đọc tiếp…)

Đại sứ Mỹ Michael Michalak và đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường hai nhà cầm quân ” ván cờ Biển Đông”…

* CÓ KHẢ NĂNG: MỸ VÀ TRUNG QUỐC NGOẶC NHAU ĐỂ CÙNG CHIA CHÁC BIỂN ĐÔNG VÀ SẼ ĐẨY VIỆT NAM RA CHẦU RÌA ? BIẾT ĐÂU MỸ SẼ GÁN DẦU MỎ BIỂN ĐÔNG ĐỂ TRỪ NHỮNG KHOẢN TIỀN MÀ MỸ ĐANG NỢ TRUNG QUỐC ???
* KHOẢN TIỀN 200 TRIỆU USD MÀ MỸ CHO VAY CÓ PHẢI LÀ CÁI “CHÂN DÒ…” MÀ MỸ TUNG RA KHÔNG ?

* Sau khi Blog Phamvietdaonv và Blog Quê Choa của Bọ Lập đăng lên mạng 2 bài phản biện lại bài trả lời phỏng vấn của Ngài Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak: trong đó có một số ý kiến của ông liên quan tới Việt Nam và liên quan tới mối quan hệ Việt-Trung. Rất nhiều cư dân mạng xa gần đã đọc 2 bài phản biện này, đã bày tỏ ý kiến của mình một cách thẳng thắn và cởi mở về những ý kiến của Ngài Đại sứ Hoa Kỳ…

(Đọc tiếp…)

“-Tôi cho rằng tình hình thực tế tại hiện trường ( Tây Nguyên ) có nhiều khác biệt, so với những câu chuyện gieo hoang mang sợ hãi mà tôi đã được nghe. Tôi tin là những câu chuyện ấy đã được… nói thế nào nhỉ, “thổi phồng”…”?

Phạm Viết Đào.

Chăm chú theo dõi bài trả lời phỏng vấn Đài VOA của Ngài Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề sau đây:

1/ Ông khẳng định mối quan hệ Việt Mỹ đã có nhiều tiến bộ:” Tôi nghĩ rằng từ một khởi đầu rất khiêm tốn, mối quan hệ đã nở rộ thành một quan hệ nhiều mặt, cho phép chúng tôi thảo luận về bất cứ vấn đề nào, kể cả nhân quyền, với Chính phủ Việt Nam…”

2/ “|Tôi không biết về ảnh hưởng đang tăng của Trung Quốc, nhưng tôi có thể khẳng định với cô rằng Hoa Kỳ trong hơn 100 năm qua, đã là một cường quốc, và sẽ tiếp tục là một cường quốc trong vùng Thái Bình Dương. Chúng tôi đã từng ở Thái Bình Dương, chúng tôi đang ở Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ duy trì sự hiện diện của mình tại Thái Bình Dương trong tương lai có thể tính được”.

3/ Về sự hiện diện của Trung Quốc tại Tây Nguyên-Việt Nam liên quan tới việc khai thác các mỏ bauxite. Có người nói chính phủ Việt Nam quá yếu mềm với Trung Quốc. Là một người có mặt ở Việt Nam và tận mắt trông thấy những thực tế tại đó, xin ông đưa ra một nhận định về tình trạng này?

Đại sứ Michalak cho biết: “Nhận định của tôi là: Thứ nhất, mọi người phải kiểm chứng sự kiện cho đúng, tôi đã nghe nói là có hàng ngàn công nhân Trung Quốc ở một số khu vực, thành thực mà nói tôi đã từng đến thăm những khu vực đó, và xác định rằng không có hàng ngàn công nhân Trung Quốc tại đó. Nhưng tôi tin rằng nên có một sự minh bạch và cởi mở hơn ở Việt Nam, Hà Nội nên cho phép nhiều các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng như báo chí lui tới các khu vực ấy để tận mắt trông thấy những gì thực sự xảy ra. Tôi cho rằng tình hình thực tế tại hiện trường có nhiều khác biệt, so với những câu chuyện gieo hoang mang sợ hãi mà tôi đã được nghe. Tôi tin là những câu chuyện ấy đã được… nói thế nào nhỉ, “thổi phồng”…

(Đọc tiếp…)

Bên này Bản Giốc là nhà; Bên kia Bản Giốc còn là ” quê choa” nữa không Bọ Lập ???

Tin TTXVN:

Ngày 30/4, Bí thư Thành ủy Thượng Hải Du Chính Thanh đã tiếp kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam đang thăm Thượng Hải và dự Triển lãm Thế giới 2010 tại Thượng Hải.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ  Cẩm Đào tại TP Thượng Hải hôm 30-4. Ảnh: TTXVN
Nét mặt Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lộ vẻ lo âu, căng thẳng ? Còn ông Hồ Cẩm Đào có vẻ…hung và dữ tướng !
Nhiệt liệt chào mừng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu Đoàn cấp cao Chính phủ Việt Nam thăm thành phố và dự khai mạc Triển lãm Thế giới 2010 (World Expo Thượng Hải 2010), ông Du Chính Thanh bày tỏ ấn tượng về những thành tựu và sự phát triển năng động của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là những năm đổi mới gần đây. Ông Du Chính Thanh nhấn mạnh chuyến thăm của Thủ tướng là sự kiện quan trọng trong quan hệ giữa Thượng Hải và Việt Nam, thể hiện mối quan tâm của Việt Nam củng cố và tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc nói chung và Thượng Hải nói riêng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bí thư Thành ủy Thượng Hải Du Chính Thanh – Ảnh Chinhphu.vn
( Blog Phamvietdaonv: Tôi đã chăm chú theo dõi tin này trên Bản tin Thời sự VTV1 truyền vào tối này 30/4? Không rõ, Bí thư Thành uỷ Thượng Hải Du Chí Thanh dàn ra cảnh: Cầu vồng tỏa ánh “hào quang chiến thắng” trên đầu mình nhằm mục đích gì ? Phải chăng để hợp thức hoá một điều gì đó hay để trêu ngươi, chơi khăm nhân ngày 30/4 là ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước của Việt Nam ? Xem Tivi thấy ông Du Chí Thanh đắc ý, cười ngất… cười đến rung hết cả rốn thì phải ? Xem cảnh này thấy nhói tim…chữ hữu nghị sao mà khó nuốt thế !
Chuyện này làm cho ta chợt nhớ tới Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang nước Tàu khi xưa. Ông đến Cửa ải, viên canh giữ ải không chịu mở cửa chính cho ông đi mà chỉ mở cửa ngách nhỏ để ông qua. Ông nhất quyết không vào với lý do: Nếu đi sứ nước chó thì mới chui qua cái cửa tò vò kia, còn ông đi sứ nước người do đó ông không thể chui cửa ngách ! )

(Đọc tiếp…)

Phúc Lộc Thọ.

Đại tướng Phùng Quang Thanh và Thượng tướng Lương Quang Liệt duyệt đội danh dự Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tại lễ đón.
Căng thẳng ngay từ những bước chân đầu tiên…

Từ ngày 21 tới ngày 28/4/2010, Đại tướng Phùng Quang Thanh-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam tiến hành chuyến thăm Trung Quốc. Đây là một nhiệm vụ ngoại giao nặng nề đối với tướng Phùng Quang Thanh bởi: quan hệ giữa hai bên đang như vắt vẻo trên một sợi giây đàn mà chỉ cấn một cử động nhẹ nó đã có thể rung toáng lên những âm thanh mà hình như cả hai bên giường như không muốn nghe.

(Đọc tiếp…)

https://i2.wp.com/i24.tinypic.com/2nb7tle.jpg

Trên cương vị Tổng Thống, tôi không có đủ thì giờ thăm viếng tất cả các sư đoàn. Rất tiếc là chuyến sau cùng tôi xuống Cần Thơ đi thăm Biệt Khu 44 cùng với Tướng Thanh vào ngày Thứ Bảy trước khi đi Côn Sơn, qua ngày Chủ Nhật hôm sau thì Tướng Thanh tử trận, trước hay sau đó tôi không nhớ rõ, tôi có ngồi nói chuyện với Tướng Nam. Sau này, Tướng Nam có lên phủ Tổng Thống họp trong những ngày cuối, lúc tình hình nguy hiểm.

Theo dõi các Tư Lệnh Sư Đoàn thì tôi thấy ông là người nghiêm chỉnh, đạo đức, về cái đạo đức của ông thì quá tốt, mình không còn gì để đặt câu hỏi. Khả năng quân sự thì chỉ có khen thôi, không có chỗ nào có thể chê được, con người can đảm, trầm tĩnh, suy nghĩ và lý luận rất là chín chắn, phân tách rất rõ ràng.

Tóm lại, khi suy nghĩ về cái chết của Tướng Nam và các tướng lãnh khác, tôi thấy đó là những cái chết anh hùng không ai có thể chối cãi được – Tướng chết anh hùng là như vậy – Nhưng có điều tôi có thể nói là tôi tiếc vì đã nghĩ lầm: “Hồi đó, tôi tin tưởng rằng, vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, các tướng lãnh sẽ có lập trường riêng của mình.” Khi tôi quyết định từ chức, tôi chỉ giao quyền cho cụ Hương, mặc dù tôi cũng có nghe nói Tướng Dương Văn Minh muốn thay thế cụ Hương. Tôi từ chức là vì những lý do riêng của tôi, và tôi nghĩ rằng đó là quyết định tốt nhất cho đất nước trong tình thế khó khăn lúc ấy. Tôi quyết định từ chức vì bổn phận bắt buộc tôi phải làm như vậy. Tôi tin rằng giao lại cho cụ Hương, chắc chắn Cụ sẽ không bao giờ chịu trao quyền lại cho Việt Cộng, họa chăng Việt Cộng vào Dinh Độc Lập, dí súng vào cổ ông, ông thà chịu để cho địch bắt đi chớ không bao giờ kêu gọi quân dân trao quyền cho chúng.

Trước khi tôi từ chức, đâu phải quân đội mình hoàn toàn tan rã đâu. Mình muốn tiếp tục đánh thì cũng đánh được, không biết tới bao lâu thôi, và chắc mình cũng không phải đầu hàng vô điều kiện. Trước đó, tôi có hỏi ý kiến một số anh em sĩ quan hay lấy ý kiến từ những người này người kia, mọi người đều đồng ý rằng nếu thương thuyết một giải pháp chính trị với Việt Cộng là việc không thể tránh thì mình phải làm, nhưng nếu giải pháp chính trị quá bất lợi cho mình thì phản ứng tự nhiên của quân đội là rút về miền Tây. Tôi nghĩ rằng nếu cụ Hương còn thì ông cũng làm như vậy. Ông sẽ giao quyền cho anh em tướng lãnh, và về phương diện quân sự, lựa chọn cuối cùng của các anh em tướng lãnh là rút về miền Tây. Có điều tôi lấy làm tiếc là khi ông Minh ra lệnh buông súng đầu hàng Cộng Sản thì các anh em tướng lãnh tại miền Tây như ông Nam, Hưng, Hai lại lựa chọn giải pháp tuẫn tiết. Lúc ấy ở miền Tây thì các ông ấy có toàn quyền quyết định. Mình có câu nói: “Tướng sa trường đâu có bắt buộc phải theo lệnh thượng cấp.”

Thật ra bây giờ, tôi chỉ tiếc cho cái chết của Tướng Nam và các tướng lãnh khác. Quốc gia, quân đội và nhân dân đã không được tận dụng tối đa các đức tính và tài năng của cấp chỉ huy quân đội còn lại như ông Nam. Lấy ví dụ như là các ông ấy quyết định tử thủ miền Tây mà thua đi vì thiếu phương tiện (dù không đầu hàng thì mình cũng phải thua, không phải vì mình thua trí, thua cái can đảm mà mình thua sức, thua phương tiện), thì lúc đó các ông ấy vẫn làm được cái gì để giữ mình và còn có cơ hội làm lại được điều gì hữu ích cho đất nước sau này…

Tiểu sử tướng Nguyễn Khoa Nam:

Tướng Nguyễn Khoa Nam…

Tướng Nguyễn Khoa Nam sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẵng. Ông là em ruột nhà văn Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn và là chú của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm…

https://i0.wp.com/tapchisonghuong.com.vn/images/news/090607nguyen%20khoa%20diem.jpg

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm…

( Một số nhà văn Huế kể rằng: Sở dĩ ông Nguyễn Khoa Điềm bị quân đội Sài Gòn bắt và được ra khỏi nhà lao Thừa Phủ sớm là nhờ có sự can thiệp của ông chú Nguyễn Khoa Nam. Chính chuyện này nghe nói sau này cũng đã gây biết bao rắc rối cho ông Nguyễn Khoa Điềm; ông bị ông T.Đ.H cho ” lên bờ xuống ruộng” do việc này khi ông có ý định chạy đua vào ” tứ trụ ” triều đình…)

Năm 1953 ông Nguyễn Khoa Nam nhập ngũ Khóa 3 Thủ Đức và gia nhập binh chủng Nhảy dù vào tháng 10 cùng năm. Từ 1955 đến 1964, Nguyễn Khoa Nam mang lon đại úy. Năm 1965 ông lên quân hàm thiếu tá và giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

Năm 1967, Nguyễn Khoa Nam được thăng cấp trung tá và được bổ nhiệm làm Lữ đoàn trưởng của Lữ đoàn 3 Nhảy dù. Cuối năm này ông được thăng đại tá. Năm 1969 ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, kiêm Tư lệnh Khu Chiến thuật Tiền Giang. Tháng 11 cùng năm ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1972 ông được thăng thiếu tướng.

Tháng 11 năm 1974, Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật đến năm 1975. Ông tự sát bằng súng bắn qua màng tang vào khoảng rạng sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975

https://i0.wp.com/vietnameseutah.org/uploads/2007/images/1240429222.nv.jpg

NGƯỜI NINH HẢI KỂ VỀ GIA CẢNH CỰU TỔNG THỐNG NGỤY NGUYỄN VĂN THIỆU HIỆN NAY

Huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận có núi Mặt Quỷ, Đá Chồng, những cái tên nghe rất lạ. Người dân ở đây nói rằng những ngọn núi này gắn liền với những chuyện truyền khẩu về ngày tàn của Nguyễn Văn Thiệu. Có thể đó là những câu chuyện mang màu sắc tâm linh, hoặc là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa thiên nhiên và cuộc sống.

Điềm báo hòn Đá Dao

Ông Trịnh Cường ở khu phố Khánh Giang, thị trấn Khánh Hải năm nay 76 tuổi dẫn tôi lên núi Đá Chồng. Hiện nay khu vực này đã trở thành Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ với một loạt các chùa uy nghiêm cùng không gian hữu tình đang xây dựng, khi hoàn thành sẽ là khu du lịch tâm linh lớn nhất cả vùng. Nằm dưới chân núi có một tảng đá hình tam giác nhọn, màu đất sét, chiều ngang cỡ 6m, chiều cao 3m. Đây được gọi hòn Đá Dao bởi hình dáng tựa lưỡi dao. Ông Cường lại chỉ ngọn núi Mặt Quỷ đối diện cách đó chừng 1km, nơi có hòn đá tựa mặt quỷ. “Mặt Quỷ kị Đá Dao”, từ lâu người ta kháo nhau nhà Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu ở sát núi Mặt Quỷ nhưng vẫn yên ổn lại thăng quan tiến chức nhanh là nhờ có Đá Dao. Vậy mà năm 1974, nó bỗng đổ, cứ như ai dùng một sức mạnh cơ học nào bật xuống.

Núi Mặt Quỷ ở Tri Hải, Ninh Hải.

Ông Cường nhớ lại: “Cỡ 4 giờ chiều tôi ra sân bóng thì nghe một tiếng rền rất to. Ngước nhìn lên thấy rõ hòn Đá Dao sụp xuống, chỉ còn trơ phiến đá làm đế. Mọi người chạy lên xem rất đông, xôn xao về một điềm báo gì đó. Điều dễ thấy nhất là không bao lâu Tổng thống Mỹ Ních-xơn từ chức. Trên địa bàn Ninh Hải lại xảy ra nhiều sự kiện lạ lùng khác. Sâu bọ ở đâu xuất hiện nhiều vô kể, băng qua đường nhựa và cầu Lăng Ông. Kế đến là vụ bướm bay từng đàn rợp trời. Đây cũng là năm Tổng thống Thiệu có lệnh tổng động viên. Thanh niên, học sinh, sinh viên đều bị huy động ra trận. Con trai ông Tám Sinh gần nhà tôi làm lính tò te, chủ yếu canh gác trong làng, vậy mà đùng một cái bị đẩy ra trận, 3 ngày sau thì chở xác về. Không khí tang tóc bao phủ các nhà, tiếng khóc ai oán vang khắp nơi”.

Điều gì đến đã đến. Trước sức tấn công như vũ bão của cách mạng, chính quyền ngụy quyền phải sụp đổ, ngày 16-4-1975, giải phóng Ninh Thuận, 21-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, 25-4, Thiệu trốn khỏi đất nước, qua Đài Loan, sau đó đến Anh và cuối cùng định cư ở Mỹ, chết năm 2001, lúc 78 tuổi.

Khu mộ lạnh khói hương, ngôi nhà cũ xuống cấp

Bà Trương Thị Thiềm (còn gọi là bà Mười Ngọc) ở thôn Tri Thủy, xã Tri Hải trước đây làm cán bộ hợp pháp, sau làm công an xã, ở gần nhà Nguyễn Văn Thiệu, chỉ dãy mộ xen cỏ lúp xúp, hoang vắng phía sau trường THCS Lý Thường Kiệt nói: “Đây là mồ mả phía nhà ông Thiệu, gồm các cụ tổ, ông bà nội và các anh chị mất lúc trẻ. Trước giải phóng, khu này lúc nào cũng có hai lính canh, lăm le súng ống, nay cả nhà ra nước ngoài, ông bà không ai hương khói, bao nhiêu năm đất lấp gần hết. Trước đây thấy mười mấy mộ, nay chỉ đếm được vài cái”.

Ông Trịnh Cường kể chuyện về cựu Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu.

Hôm tôi về Ninh Hải thấy có một vài người từ xa đến thăm ngôi nhà của Nguyễn Văn Thiệu ở Tri Thủy, chủ yếu họ đi thăm, tắm biển ở Ninh Chữ rồi nhân tiện đến đây. Anh Lê Văn Tiến, Phó chủ tịch xã Tri Hải cho biết: Thỉnh thoảng vẫn có người hiếu kì, kể cả nước ngoài đến hỏi han. Ngôi nhà tường xây, cột gỗ, lợp ngói theo kiểu xưa, trong nhà chẳng có gì đặc biệt, không chạm trổ hay điêu khắc để có thể chiêm ngưỡng. Nhà chính khá rộng rãi, ít hư hỏng hơn trong khi nhà dưới và nhà bếp xuống cấp nặng. Theo anh Tiến, sau giải phóng, huyện tiếp quản làm nhà trẻ, sau đó cho các hộ khó khăn ở tạm, khi nào làm được nhà mới thì bàn giao lại cho người khác. Cứ thế mấy mươi năm nay, đã có nhiều hộ sử dụng ngôi nhà này, vừa ở vừa bảo quản, sửa chữa nhỏ, quét vôi ve, lợp lại ngói đã mục nát…

Người Tri Hải đã khép lại quá khứ, dù nơi đây vẫn tồn tại một ngôi nhà của một cựu tổng thống ngụy quyền từng làm tay sai cho ngoại bang gieo rắc đau thương trên quê hương mình.

Bài và ảnh: Hà My

( Nguồn: QĐND )

Đăng bởi: phamvietdaonv | 18.04.2010

BÌNH YÊN KHÔNG THỂ LÀ THỨ CÓ THỂ XIN CHO !

Hầu chuyện với ông Dương Đức Quảng

Tôi chăm chú đọc bài “ Xin cho hai chữ bình yên” ( * ) của ông Dương Đức Quảng viết trên Blog của ông và được nhiều bạn đọc chú ý trong đó có tôi. Tôi muốn được thưa chuyện lại với ông bởi, tôi biết ông là người đã lớn tuổi, hình như đã cập kề cái ngưỡng “ cổ lai hy”…

Ảnh: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (thứ 4, hàng trước, trái sang), nhà báo Dương Đức Quảng (thứ 3, hàng trước, trái sang),  dưới chân cột cờ Lũng Cú trong chuyến thăm Hà Giang 19/1/2010.( Nguồn: Blog Dương Đức Quảng )

Tôi biết ông Dương Đức Quảng nguyên là Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí của Văn phòng Chính phủ thời ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng; có thời ông được coi là tham mưu số 1 cho nguyên thủ quốc gia về mặt thông tin, ngôn luận…Chính vì vậy thấy cần phải bày tỏ suy nghĩ, chính kiến của mình về một số ý kiến của ông Dương Đức Quảng là việc cần thiết.Chúng tôi suy ngẫm rất kỹ về các ý kiến sau đây của ông Dương Đức Quảng:

Việc xác định bạn và thù trong đường lối đối ngoại là cực kỳ quan trọng, không thể vì một sự “bức xúc” nào đó mà xác định bạn thành thù và ngược lại, không vì một sự “hảo hảo” nào đó mà biến kẻ thù thành bạn. Song, tôi nghĩ, có nhiều mối quan hệ đối ngoại mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu hết những điều phức tạp của nó, mới có đủ thông tin để xử lý các tình huống mà người “ngoại đạo” không biết được.

( Đoạn này chắc ông muốn nói dân chơi Blog vỉa hè thì biết chi về chuyện chính trường, đối nội-đối ngoại mà tham gia ? )

…Vì thế, đọc một số bài viết trên mạng của người này người khác quá bức xúc, chỉ muốn “chiến” với Trung Quốc trước một số hành động của họ đối với ta gần đây, nhất là bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của ta đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa…, dù cũng bức xúc không kém, tôi vẫn cầu trời khấn phật rằng đừng có vì những việc này mà “chiến” thật với Trung Quốc. Tình thế đất nước hiện nay không phải là lúc “ngàn cân treo sợi tóc” như đã từng xảy ra, nên càng cần học Bác Hồ trong các đối sách với Trung Quốc, làm sao cho quan hệ hai bên tốt đẹp, tránh để xảy ra đụng độ chứ đừng nói là chiến tranh giữa hai nước như trước đây. Nếu không khéo thì có khi lại mắc mưu của thế lực này, thế lực khác chỉ muốn Việt Nam không được yên ổn để xây dựng và phát triển.Còn tôi, tôi chỉ xin cho hai chữ bình yên…”

Trước hết ngay cả thông tin báo chí, ngôn luận cũng chỉ là phương tiện thông tin bằng lời nói, bằng bài viết và bắng mạng internet; chức năng của nó là thông tin, sức mạnh và cái đích của nó cao nhất là tạo dư luận nhằm gây áp lực lên một bộ phận nào đó trong xã hội. Thông tin báo chí là người cầm cương dư luận chứ không phải là đội quân đề ra quyết sách, cầm cương chính trường; Việc này thuộc thẩm quyền của các cơ quan chính trị, nhà nước, chính phủ, đảng phái chính trị…

Do vậy chính thể nào, chính phủ nào quá lo sợ đội quân thông tin báo chí quá mạnh, tức là chính phủ đó,chính thể đó thật sự yếu kém và có quá nhiều thối nát bên trong; do vậy nên sợ bị sụp đổ bởi một vài làn gió thoảng qua…

Kể cả báo chí chính thống mà Bộ trưởng Lê Doãn Hợp dán nhãn cho là “lề phải” ấy cũng chỉ dừng lại mốc định giới đó; còn Blog, những trang Website cá nhân vẫn được xếp vào diện “lề trái”, là thứ nằm ở vỉa hè thông tin, làm gì có quyền can dự vào một quyết sách nào đó của chính quyền hay của một đảng phải chính trị nào? Tất nhiên nói vậy không có nghĩa thông tin blog hoàn toàn là những thông tin tầm phào, vỉa hè, không ai để ý tới…Có những blog cá nhân hiện nay có lượng người truy cập hàng ngày cao hơn rất nhiều các tờ báo “ lề phải “ sống bằng “ bầu vú “ ngân sách dưới nhiều dạng thức khác nhau.

Vừa qua thế giới Blog đã làm được một số chuyện mà báo chí lề phải không làm được: Đó là những ý kiến phản biện quyết liệt về Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên. Tất nhiên Chính phủ vẫn cứ triển khai nhưng dư luận không thể không đếm xỉa tới các ý kiến được xếp vào “ lề trái “ này và rồi lịch sử sẽ chứng minh ai đúng, ai sai! Rồi vụ ông Đào Duy Quát đăng tin của mạng Trung Quốc trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam vô tình hay hữu ý xác nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Nếu không có đám blog “ bóc mẽ “ chuyện này ra thì ông Đào Duy Quát chắc còn tiếp tục tung hoành trên các diễn đàn để thuyết giảng về lập trường quan điểm nọ kia. Chí ít dân Blog cũng đã buộc Bộ Thông tin Truyền thông xử phạt Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam 30 triệu đồng; Ban Tuyên giáo thi hành kỷ luật hình thức khiển trách Tổng Biên tập Đào Duy Quát, một việc hy hữu vì ông vừa nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì trước khi cho đăng bài báo kể trên trên Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam?

Rồi việc một số người ở Quảng Ninh sang tham dự lễ dâng hương miếu Phục Ba Tướng quân Mã Viện ở Đông Hưng không chỉ lần đầu, nếu không được giới blog nhanh nhảu tố lên thì cái lễ này chắc còn được nhiều bà con Quảng Ninh tham gia đều đều.

Hay vụ cái công văn 218 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, nếu không có đám Blog tấu lên thì làm sao cư dân mạng biết được trình độ chính trị của các quan chức Lạng Sơn nó non kém như thế nào, trong bối cảnh chính trị phức tạp trong quan hệ Việt-Trung hiện nay.

Ông Dương Đức Quảng, nhà báo Nguyễn Vĩnh, nhà ngoại giao Dương Đăng Dy biết rõ Hữu Lũng ở đâu và các liệt sĩ Trung Quốc này chết trong thời kỳ nào là do các vị này là người trong cuộc, làm việc trại những cơ quan chính phủ cao cấp. Theo như người viết bày này biết: loại thông tin nói về sự giúp đỡ của Trung Quốc về quân sự cho Việt Nam, nhất là sự giúp đỡ về người chỉ được đưa đậm và cụ thể trước năm 1975, còn sau 1975 các thông tin này đều đưa chung chung và xếp vào diện nhạy cảm và ít khi đưa.

Do vậy khi thông tin này được UBND tỉnh Lạng Sơn đưa lên mạng, làm sao người dân ở những vùng như Quảng Ngãi, Quảng Nam, những thế hệ sinh năm 1975 biết được Hữu Lũng là đâu, bộ đội Trung Quốc sang đây làm gì và vì sao lại hy sinh ? Người dân Việt Nam biết đến Lạng Sơn nhiều nhất đó là: địa danh đẫm máu trong những cuộc giao tranh giữa bộ đội ta và bộ đội Trung Quốc trong mùa xuân 1979.

Do vậy thông tin này đã gây hiểu lầm là điều tất yếu !

Ai dám đảm bảo trong đoàn Cựu chiến binh Trung Quốc sang tảo mộ trong tiết thanh minh tại Lạng Sơn lần này có các tên lính đã từng sang bắn giết ở Lạng Sơn mùa xuân 1979 ké vào ? Tất nhiên chúng ta cũng không thể phân biệt và cản trở việc trà trộn, ké vào này. Liệu 3 cơ quan chức năng của tỉnh Lạng Sơn: Sở Ngoại vụ, Sở Lao động Thương binh và Xã hội và UBND huyện Hữu Lũng tổ chức đón tiếp trọng thị này nếu chẳng may có kẻ đã bắn và đốt nhà đồng bào Lạng Sơn thì đó không chỉ là “ kính chẳng bõ phiền…” mà còn làm đau lòng các vong linh liệt sĩ đã hy sinh ở Lạng Sơn…Bởi vì đám cựu chiến binh này tội gì không tranh thủ chuyến du lịch miễn phí lại được đón tiếp trọng thị mà ké vào ít suất…

Do vậy, việc các blog xúm vào làm rầm rĩ vụ này lên không hoàn toàn mang mục đích, động cơ tung tin xấu, thất thiệt; vì bản chất thông tin là thông tin. UBND tỉnh Lạng Sơn vốn quen gửi công văn cho các cơ quan nội bộ nên tưởng rằng đây là những thông tin mà mọi người đã quán triệt, đã biết rõ như ý kiến của ông Dương Đức Quảng. Thế nhưnng khi đã lên mạng thì tình hình lại khác. Do vậy, giới Blog đã một lần góp ý tốt cho không chỉ Lạng Sơn mà cả các cơ quan công quyền khác. Không phải cơ quan nào khác mà chính Văn phòng Chính phủ đã có lần sửng sốt trước công văn của một Bộ nọ đề: Kính gửi: “Chó” Thủ tướng…; điều này đã được đích danh ông Phó Thủ tướng bị coi là “ Chó” này kể trong một buối hội nghị ngành…

Xin trở lại vấn đề về thái độ trong quan hệ với Trung Quốc nên như thế nào cho đúng mực, ông Dương Đức Quảng có đưa các kinh nghiệm quan hệ với Trung Quốc của ông Hồ Chí Minh. Nhân ông Dương Đức Quảng nhắc đến Hồ Chí Minh, chúng tôi cũng xin viện dẫn tới Hồ Chí Minh trong các vấn đề đối ngoại.

Chúng ta chắc không ai quên lời kêu gọi Toàn Quốc kháng chiến năm 1946 và Lời kêu kêu gọi 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh:” Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!…”; “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”

Trong các quan hệ đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ chủ trương nhân nhượng, tranh thủ khi còn có khả năng nhân nhượng và tranh thủ được; điều này tùy thuộc vào bối cảnh và hoàn cảnh lịch sử cụ thể: Dĩ bất biến ứng vạn biến. Do đó, không thể lấy kinh nghiệm của Hồ Chí Minh trong giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử này để áp dụng vào hoàn cảnh lịch sử khác. Không thể lấy các bài học kinh nghiệm trong quan hệ đối ngoại với Trung Quốc trong thời kỳ Hồ Chí Minh đang sống để lấy làm khuôn mẫu để ngầm ý chê thời ông Lê Duẩn hơi cứng nhắc, hơi tả, là “máu chiến” dẫn đến cuộc chiến tranh đáng tiếc 1979 là một sự viễn dẫn sai. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 thực chất đã được ” lập trình ” ở Bắc Kinh. Tôi viết như thế này không biết có đúng ý của Dương Tiên sinh không ? Hay Dương Tiên sinh có ý khác ?!

Chính trong thời kỳ năm 1979, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà quân sự chính trị được xếp vào hàng chín chắn và trong sáng bậc nhất đã có bài viết hùng hồn kêu gọi quân dân Việt Nam kiên quyết đánh trả và đánh thắng bọn bành trướng xâm lược.

”Tình thế đất nước hiện nay không phải là lúc “ngàn cân treo sợi tóc” như đã từng xảy ra, nên càng cần học Bác Hồ trong các đối sách với Trung Quốc, làm sao cho quan hệ hai bên tốt đẹp, tránh để xảy ra đụng độ chứ đừng nói là chiến tranh giữa hai nước như trước đây. Nếu không khéo thì có khi lại mắc mưu của thế lực này, thế lực khác chỉ muốn Việt Nam không được yên ổn để xây dựng và phát triển.Còn tôi, tôi chỉ xin cho hai chữ bình yên…”

Theo chúng tôi, đất nước nếu chưa rơi vào tình cảnh“ ngàn cân treo sợi tóc” nhưng, nếu có dùng ngàn sợ tóc để treo ngàn cân thì nguy cơ không nhỏ hơn. Về ý kiến trên của ông Dương Đức Quảng khiến cho chúng tôi chợt liên hệ tới một số kẻ đang nhân danh: sự đồng thuận, nhân danh sự nhạy cảm trong các quan hệ đối nội, đối ngoại, để tìm cách đả kích, bóp mồm, bóp miệng, chụp mũ cho những ý kiến tỏ ra bức xúc, lo lắng thành tâm với các vấn đề liên quan tới số phận sống còn của dân tộc là gây rối nội bộ.

Chính ông Đào Duy Quát cũng đã có lần huấn thị các nhà báo: Đưa tin về Trung Quốc như thế thì có lợi gì, có lợi gì ? Chắc đưa tin như Báo điện tử ĐCSVN của ông mới là có lợi chăng, nếu thế thì:”Lợi thì có lợi nhưng răng không còn …” Không biết ông Đào Duy Quát có còn cảm thấy đau răng nữa không?

Ảnh: Ông Dương Đức Quảng và ông Đào Duy Quát hình như đang đau răng…

Theo tôi, cần phải hết sức cảnh giác về những ý kiến tương tự kiểu như ý kiến của ông Dương Đức Quảng, ông Đào Duy Quát. Biết đâu đó chính là luận điệu đang tìm cách tác động vào “bên trong” và “bên trên” gây nên những cú “tự diễn biến” như nhận định trong một bài viết “ Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình: Phòng chống “ tự diễn biến” từ bên trong và bên trêncủa Tiến sĩ Lê Văn Bảo đăng trên báo Quân đội nhân dân số ra ngày 4/4/2010. Rất mong Lê Tiến sĩ tham gia thẩm định hộ vụ này…

Sự bình yên, độc lập, tự chủ, tự do, các giá trị dân chủ, nhân quyền của cả một dân tộc cũng như của từng cá nhân không bao giờ là thứ có thể xin cho được. Người Việt Nam muôn đời nay chưa bao giờ tiếp nhận được sự bao cấp này từ bất cứ đâu các giá trị kể trên! Biết đâu ông Dương Đức Quảng và ông Đào Duy Quát được ban ân sủng ngoại lệ này từ bên trong, bên trên và bên ngoài nữa chăng ?!

Phạm Viết Đào.

( * ) http://vn.myblog.yahoo.com/dd_quang1945

Phạm Viết Đào.

Báo Quân đội nhân dân ra ngày chủ nhật 4/4/2010 vừa cho đăng bài chính luận“ Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình: Phòng chống “ tự diễn biến” từ bên trong và bên trêncủa Tiến sĩ Lê Văn Bảo; bài báo có nhiều quan điểm, lập luận khá chi là đanh, mặc dù viết chung chung. Liệu đây có là một phát súng chỉ thiên nhằm cảnh báo của báo Quân đội với các thế lực thù địch và cả đối với những  ai thuộc thành phần “bên trong” và “bên trên” đang chơi canh bạc tự diễn biến hòa bình không ?

Để rộng đường dư luận, Blog Phamvietdaonv xin có đôi lời tham góp nhằm: diễn nghĩa nôm na, làm sáng tỏ thêm những quan điểm đánh giá, cùng với những giải pháp của Lê Tiến sĩ và với báo Quân đội nhân dân, nơi đã đăng bài chính luận quan trọng kể trên…

(Đọc tiếp…)

PHÒNG, CHỐNG ” TỰ DIỄN BIẾN ” TỪ BÊN TRONG VÀ TỪ BÊN TRÊN ?

Gay rồi, nếu cứ như lập luận của tác giả bài báo này thì: đã có dấu hiện về cái sự ” tự diễn biến hòa bình ” từ bên trong ” (  chắc là trong nội bộ Đảng ) và “từ bên trên” tức là ở các cơ quan đầu não…Thượng mà đã có dấu hiệu bất chính, thì hạ chắc sắp…

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công, ngoại kích”, trong đánh ra, ngoài đánh vào, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi Đảng ta đang tiến hành các bước chuẩn bị cho Đại hội XI thì các thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến” càng được chúng thực hiện ráo riết hơn.

(Đọc tiếp…)

Nhân sự kiện do báo mạng Trung Quốc đưa: Ngày 21/3/2010 vừa qua một số đoàn Việt Nam đã mang lễ vật sang tham dự ” Miếu hội Phục Ba tướng quân ” tại Đông Hưng, ( giáp giới với Móng Cái Việt Nam) do Trung Quốc tổ chức. Miếu hội tổ chức từ năm 2008 đến nay và thường có đoàn Việt Nam sang góp vui. Phục Ba Mã Viện là tướng nhà Hán, người đã đánh bại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và thiết lập ách đô hộ của nhà Hán lên mảnh đất Giao Chỉ, Cứu Chân…

Blog Phamvietdaonv xin hiển thị lại bài viết của tác giả Thiên Đức trình bày một cách có hệ thống Phục Ba tướng quân Mã Viện là ai; âm mưu thâm độc của ông ta trong việc triệt phá sức sống của Giao Chỉ Cửu Chân như thế nào !

THIÊN ĐỨC.


Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Nội

1/ Mã Viện cho xây Trụ đồng để:

– Làm Đài thiên văn ?

– Làm trụ mốc biên giới xác định ranh giới lãnh thổ hai nước kèm theo lời thề nguyền ngụ ý hăm doạ dân Giao Chỉ không được xâm lấn lãnh thổ Trung Quốc: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt ?

– Hay trụ đồng Mã Viện là một dụng cụ phong thủy chôn tại động Cổ Sâm nhằm mục đích phá vỡ huyệt kết phát vương quyền của đất Giao Chỉ?

2/ Trụ đồng Mã Viện xây ở đâu:

– Theo sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh chép: Trụ đồng Mã Viện đặt ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà Hán.

Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của Giáo sư-Bác sỹ Trần Ðại Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á ( Pháp )“Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA”(1) (vietnamsante.com), thì: biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc giáp giới với tới hồ Ðộng Đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên ? (Đọc tiếp…)


Biễu ngữ giương ở cửa Chợ Hôm-Đức Viên-Hà Nội nhân ngày 8/3/2010…

Phạm Viết Đào.

Theo tin các mạng Trung Quốc đã được một số trang mạng khác đưa tin lại, một số năm gần đây, từ năm 2008 tới 2010: Tại Đông Hưng, Trung Quốc trị trấn giáp giới với Móng Cái của Việt Nam, Trung Quốc đã cho khôi phục lại “ Miếu hội Phục Ba tướng quân “ là ngôi miếu thờ Mã Viện, tức Mã Văn Uyên, người đã kéo quân sang Việt Nam đánh bại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và thiết lập ách độ hộ của Đại Hán 1000 năm trên đất Giao Chỉ.

Theo nhiều sử sách đã ghi, Mã Viện là người đã cho xây dựng Chiếc cột đồng với lời ghi: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt… ngay trên lãnh thổ Văn Lang, giáp giới với vũng biên viễn phía nam Trung Quốc.


Hoành phi trước Miếu Phục Ba Mã Viện:Vệ Quốc Anh Hùng, Vạn Dân Kính Ngưỡng

(Đọc tiếp…)

NHÀ XE ĐỨC BÌNH HÀNG NGÀY KHỞI HÀNH TẠI THỊ TRẤN LẠT-TRẠI 3-TÂN KỲ-NGHỆ AN VÀO LÚC 21 GIỜ; ĐẾN MỸ ĐÌNH-HÀ NỘI 4 GIỜ SÁNG HÔM SAU VÀ QUAY VỀ TÂN KỲ XUẤT PHÁT TẠI MỸ ĐÌNH VÀO 7 GIỜ SÁNG THEO TUYẾN: HÀ NỘI-NINH BÌNH-THANH HÓA-QUỲNH LƯU-DIỄN CHÂU- ĐÔ LƯƠNG-LẠT-NGHỆ AN…( SỐ Đt: 09.82.91.58.23 )


Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã được ghi vào lịch sử nhân loại về sự bùng nổ của một cuộc cách mạng: cách mạng tình dục. Qua sự bùng nổ của phong trào này cho thấy chị  em tỏ ra “ máu” hơn anh em rất nhiều về khoản tình dục. Theo một số liệu vừa được công bố tại Anh đã  chứng minh rằng: Phụ nữ hiện nay máu sex  gấp 3 lần so với thế hệ những người đã sinh ra họ cách đây 50 năm.

Theo các nhà nghiên cứu, phụ nữ năm 2000 có số bạn tình nhiều gấp ba lần so với đàn ông. Đàn ông hãy chú ý: Phụ nữ không chỉ thích làm chuyện ấy trên giường riêng của nhà mình.

Một công trình nghiên cứu 3000 tại Anh cho thấy phụ nữ từ 18 tới 24 tuổi trong giai đoạn 2000-2005 bình quân có tới 5,65 bạn tình. Trong khi đó trong những năm 60 là thời kỳ bùng nổ cuộc cách mạng tình dục, phụ nữ bình quân chỉ có tới 1,67 bạn tình ngoài luồng. Vào những năm 70, phụ nữ có tới 3,72 bạn tình; những năm 90 con số bạn tình của chị em lên tới 5.

Như vậy trong con mắt chị em, đàn ông ngày càng trở nên nhàu chán nên phải đối món.

1./4 chị em vào những năm 70 được hỏi cho biết: cho tới 24 tuổi họ có tới 2 cho tới 4 bạn tình. Trong khí đó thì 8% số chị em cho biết họ đã ngủ với 10 đàn ông.

Sức  khỏe và đời sống tình dục

Mặc dù chị em là giới có nhiều trải nghiệm về tình dục so với thời gian trước đây, một công trình nghiên cứu do hãng dược phẩm Lloyds Pharmacy đặt hàng đã cho thấy hoạt động tình dục nhiều không ảnh hưởng tới sức khỏe…

Số liệu do một tổ chức của nước Anh nghiên cứu về các phương pháp chữa trị bênh ung thư Cancer Research UK , đã chỉ ra rằng: những người hoạt động tình dục nhiều thường ít bị bệnh ung thư về đường tiết niệu hơn so với những phụ nữ chỉ biết có mỗi mối tình đầu ở lửa tuổi dưới 25 tuổi.

50 % số sinh viên ở Đại học Cambridge bình quân mỗi tuần có tới 2 bạn tình

Vấn đề cơ bản hiện này đó là việc cần phải giáo dục đời sống tình dục như thế nào để nó hợp lý, khoa học, có kiểm soát , Giám đốc Music Tony Kerridge, thuộc Marie Stopes International, một viện nghiên cứu chuyên ngành giành cho đời sống tình dục nữ giới cho biết như vậy. Bởi vì, môi trường tình dục hiện nay hoàn toàn khác với những năm 60. Tuổi trẻ nagfy nay quan hệ tình dục nhiều hơn thế hệ trước đây là một phần tất yếu của cuộc sống…

Hiện nay tại những nước Bắc Âu, số vụ ly dị đang giảm dần cũng với các bệnh lây qua đường tình dục; đạt được kết quả đó là do những nước này tổ chức tốt việc giáo dục đời sống tinh dục cho lớp trẻ…

HÀNH KHÁCH CÓ NHU CẦU ĐƯỢC NHÀ XE ĐỨC BÌNH PHỤC VỤ XIN LIÊN HỆ SỐ Đt: 09.82.91.58.23

Đăng bởi: phamvietdaonv | 01.03.2010

HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN BAUXITE NHÂN CƠ ?

Phạm Viết Đào.

Theo tin các báo, ngày 28/2, tại huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông, Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) làm chủ đầu tư đã chính thức được khởi công.

“Theo ông Hòa (ông Dương Văn Hòa, chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ), vốn đầu tư ban đầu của dự án này là 11.365 tỉ đồng ; giá thành sản xuất mỗi tấn alumin là 5,118 triệu đồng, trong khi giá bán sản phẩm là 5,963 triệu đồng/tấn (tỷ lệ giá thành so với giá bán là 85,84%); kim ngạch xuất khẩu alumin khoảng 211 triệu USD/năm. Mỗi năm, dự án có chi phí sản xuất là 3.007 tỉ đồng, trong khi doanh thu bình quân khoảng 3.756 tỉ đồng/năm. Theo tính toán mỗi năm, dự án nộp phí môi trường 109,5 tỉ đồng, chi phí phục hồi môi trường khoảng 12,8 tỉ đồng…”( Theo Thanh Niên ).

Theo báo Tuổi trẻ nguồn vốn đầu tư này tương đương với 655 triệu USD.

Qua các số liệu do ông Dương Văn Hòa cung cấp cho các báo, chúng ta cùng Tập đoàn than và khoáng sản VN là chủ đầu tư tham gia giải bài toán hiệu quả kinh tế của dự án này:

-Theo ông Hòa tỷ lệ giá thành trên giá bán là 85,84%; mỗi năm Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ xuất khẩu theo tính toán ( kiểu cua trong lỗ ) khoảng 210 triệu USD; Vậy mỗi năm Công ty sẽ thu lãi là:

210 triệu USD x ( 100%- 85,84 %)= 29,736 triệu USD;

Hiện nay giá vay ngoại tệ bình quân tại thị trường Việt Nam cho các dự án kinh doanh trung và dài hạn tạm tính mức thấp là 4 %/năm; như vậy mỗi năm chủ đầu tư phải trả một khoản lãi là:

655iệu USD x 4 %/năm = 26,2 triệu USD/năm ?

-Chúng tôi không rõ khoản lợi nhuận này đã được Chủ Đầu tư tính vào chi phí đầu vào chưa? Nếu đã được tính vào chi phí đầu vào rồi, tức là một trong yếu tố cấu thánh giá thành 85,84% của sản phầm thì coi 29,736 triệu USD là lãi ròng.

( Nếu chưa tính vào đầu vào thì lãi một năm chỉ được tính là: 29,736 triệu USD-26,2 triệu USD= 3,536 triệu USD)

Để trả được khoản nợ 655 triệu USD này, Chủ đầu tư phải hoàn trả trong vòng tính theo phương án lãi ròng 29,736 triệu USD:

655 triệu USD : 29,736 triệu USD/năm =  tính tròn thành 21 năm;

Nếu tính mỗi năm chủ đầu tư cứ cho là đem hết tiến lãi trả nợ hết thì khoãn lãi mẹ đẻ lãi con phát sinh thêm cũng trên 20 triệu USD/năm; vì  Chủ đầu tư trích lãi trả dần. Do đó, ít ra số tiền mà Chủ đầu tư vay phải trả ít nhất trong vòng 25 tới 30 năm mới hoàn lại được vốn đầu tư ban đầu ?!

Một dấu hỏi đặt ra: Sau 20-30 năm tuổi thọ của những máy móc được đầu tư còn hoạt động được không hay phải đầu tư mới; trong khi như ôtô chẳng hạn, tuổi thọ được quy định là 10 năm giành loại ôtô Hàn Quốc, Nhật?

Máy móc đầu tư cho dự án này chắc chắn do Trung Quốc sản xuất, vì thế tuổi thọ của nó là bao năm, điều nay chắc các chuyên gia kỹ thuật sẽ tính toán chính xác ?!

Như vậy, để thu được vốn đấu tư ban đầu của dự án này, theo số liệu mà Chủ đầu tư cung cấp thì phải mất 25-30 năm mới thu hồi được vốn trong điều kiện thì trường không biến động lớn.

Liệu Tập đoàn Than và Khoáng sản có rơi vào tình cảnh suốt đời “kéo cày trả nợ” không khi đầu tư vào dự án này ?!

P.V.Đ

THIÊN ĐỨC.


Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Nội

1/ Mã Viện cho xây Trụ đồng để:

– Làm Đài thiên văn ?

– Làm trụ mốc biên giới xác định ranh giới lãnh thổ hai nước kèm theo lời thề nguyền ngụ ý hăm doạ dân Giao Chỉ không được xâm lấn lãnh thổ Trung Quốc: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt ?

– Hay trụ đồng Mã Viện là một dụng cụ phong thủy chôn tại động Cổ Sâm nhằm mục đích phá vỡ huyệt kết phát vương quyền của đất Giao Chỉ?

2/ Trụ đồng Mã Viện xây ở đâu:

– Theo sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh chép: Trụ đồng Mã Viện đặt ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà Hán.

Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của Giáo sư-Bác sỹ Trần Ðại Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á ( Pháp )“Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA”(1) (vietnamsante.com), thì: biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc giáp giới với tới hồ Ðộng Đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên ?
Hằng nằm cứ vào ngày 6/2 âm lịch lể kỷ niệm hai bà Trưng được cử hành tại nhiều nơi có người Việt sinh sống. Ðây là một sinh hoạt có tính lịch sử truyền thống.

Vào năm 40 sau công nguyên (scn), Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị quê ở Mê Linh đã dựng cờ khởi nghĩa, trước là trả thù cho chồng sau là đánh đuổi quân xâm lược, Hai Bà đã lấy được 65 thành trì và sau đó là xưng vương họ Trưng.

Năm 42 scn Mã Viện theo đường biển xua quân đánh trở lại. Trước thế giặc mạnh, quân hai bà chống cự không nổi, rút lui về Cẩm Khê và tan hàng từ đó.

Sau khi xâm chiếm đất Giao Chỉ Mã Viện cho thực hiện hai công trình là: Dựng trụ đồng Mã Viện tại động Cổ Sâm, châu Khâm và xây thành Kiên Giang hình tổ kén ở Phong Khê.

Trang lịch sử này đã gây nhiều tranh cãi về nhiều vấn đề như là:

– Nguyên do khởi nghĩa của Hai Bà vì thù chồng hay vì nợ nước?

– Hai Bà lập nên chế độ mẫu hệ đầu tiên ở Việt Nam chăng?

– Ngày lễ kỷ niệm của Hai Bà cũng có sự khác biệt? Ngày 6/2 hay 6/3 Âm lịch?

– Nguyên do cái chết của Hai Bà là nhảy sông tự tử hay bị chém đem đầu về Trung Quốc?

Cho dù có đặt nghi vấn như thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải thừa nhận một điều là Bà Trưng là vị nữ vua đầu tiên tại Việt Nam, một vị vua thành tựu do công sức và tài trí trực tiếp đánh quân xâm lược. Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa do lòng yêu nước chân chính của mình, xuất thân từ giai cấp quí tộc, chứ không phải từ quan niệm đấu tranh giai cấp như nhà sử học xã hội chủ nghĩa lý giải.

Hai bà Trưng đã tạo dựng nên truyền thống vẻ vang nữ anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Theo Khâm Ðịnh Việt Sử Thương Giám Cương Mục (KDVSTGCM), trang 24-25 ghi:

“Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Ðô Dương đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của Nhà Hán…”.

Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Ðạo Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (tức Mã Viện) dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc…

Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh có chép:

Tương truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã Viện có thề rằng: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Ðó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang.
Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập hành quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang. Ba năm sau Mã Viện về nước
. (viethoc.org)

A- Trụ Ðồng Mã Viện

Trải qua một thời gian dài bị đô hộ dưới thời Hán thuộc, trụ đồng Mã Viện đã hoàn toàn mất hết dấu tích nhưng vẫn còn để lại nhiều nghi vấn lịch sử như sau:

I – Sự thật của trụ đồng

Trụ đồng Mã Viện là một câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ðây không phải là một huyền thoại hay là hư cấu.

Vào đời vua Trần Thánh Tôn, Ngài đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy.

“Tháng 4 mùa hạ (1272,) sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi… ( KDVSTGCM, Quyển VII tr. 219)

“Tháng 8 mùa thu (1345) Sai sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang hỏi địa giới cột đồng ngày trước. Nhà vua sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên biện bạch sự việc này” (KDVSTGCM, Quyển IX Tr.279).

II – Vị trí của trụ đồng

Ða số sử liệu đã thống nhất vị trí của trụ đồng như sau:

– Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh chép: Cột đồng ở về động Cổ Sâm, châu Khâm.

– Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Ngoại Ký của Lê Văn Hưu Quyển III Tr. 22 ghi: Mã Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. Cột đồng tương truyền ở trên động cổ Lâu, châu Khâm.

Tóm lại theo sử liệu trên có thể kết luận là trụ đồng nằm ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà Hán.

Một vấn đề cần được sáng tỏ nữa là: châu Khâm là huyện biên giới giữa Giao Chỉ và Nam Hán hiện nay nằm ở đâu?

Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của Tiến sỹ Trần Ðại Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA”(1) (vietnamsante.com), thì:

Sau khi dẫn chứng lịch sử thời hai bà Trưng, di tích, cổ vật, cùng kết quả thử nghiệm DNA đã kết luận rằng: Biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng Đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên.

Sự phát hiện này có thể xác quyết một điều là vị trí trụ đồng nằm ở biên giới phía Bắc Việt Nam qua thời gian đô hộ đã bị Trung Quốc lấn chiếm và vùng đất động Cổ Sâm (Cổ Lâu) hiện nằm sâu trong lãnh địa Trung Quốc hiện nay.

“TRỤ ĐỒNG MÃ VIỆN” THỜI HỒ CẨM ĐÀO LIỆU CÓ PHẢI ĐÃ ĐƯỢC CẮM Ở TÂN RAI-BẢO LÂM-LÂM ĐỒNG ?

Một trong 2660 cột trụ bê tông được đào tại nhà máy luyện alumin Tân Rai Lâm Đồng có chiều sâu 34 m và do công nhân Trung Quốc đào thủ công có giống với trụ đồng Mã Viện thời Hán ?

III – Ý nghĩa câu “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt”

Trong hầu hết cổ sử Trung Quốc và sử Việt ghi chép lại, giải thích câu này chỉ là một lời thề. Ðiểm này có nhiều nghịch lý.

1. Ðây không thể là một lời thề. Thật vậy, Mã Viện là người đi chinh phục và vui mừng thắng trận, nên không có động cơ nào để tạo ra một lời thề ghi trên trụ đồng. Vì vậy sách sử gọi đây là lời thề là không đúng sự thật.

2. Ý nghĩa câu chữ “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” ngầm ý hăm dọa cũng như gây hận thù với dân tộc Giao Chỉ rất là phi chính trị. Theo sử sách cho biết Mã Viện là một danh tướng văn võ song toàn giỏi quân sự lẫn chính trị, có thể nào ngây ngô đưa ra một lời thề phi chính trị như trên hay không? Tất nhiên là không, vì thế Mã Viện cố tình ghi khắc câu này tất phải có mưu đồ sâu độc nào đó đối với đất nước Giao Chỉ vậy.

3. Ða số sách sử Trung Hoa cũng như Việt Nam đều giải thích câu: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là trụ đồng gãy thì dân Giao chỉ bị giết. Chữ Chiết mà dịch là gãy đúng với ngôn ngữ, thế nhưng trong trường hợp này có điều không ổn. Vì rằng một cột trụ đồng kim loại, đặc ruột dựng giữa thiên nhiên thì làm sao có thể gãy được? nếu so với một cây cau, một cây dừa thân mộc, cao, tán cây rộng lung lay trước gió bão còn có thể đứng vững. Thì đây là một nghịch lý.

Do vậy sự dịch thuật câu chữ này hoàn toàn sai lầm một cách cố tình nhằm che dấu một bí mật lịch sử mà người viết sẽ phân tích ở phần sau.

IV- Công dụng của trụ đồng

Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi và cũng chưa có lời đáp thích hợp.

1) Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng tin lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém… Nếu coi cột đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể chơi cho có thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên, tr.199). Ðây chỉ là lối nói huề vốn khi không lý giải được những nghịch lý của câu chuyện trụ đồng, do vậy không đáng tin cậy. Viết lịch sử của một dân tộc cần sự nghiêm túc chứ không phải là chuyện mỹ đàm, kể chơi cho vui.

Vườn hoa trồng theo hình Quốc ấn tại dinh Bảo Đại- T.P Đà Lạt…


2) Theo tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas – lịch sử).

Cột đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Ðồ Di cũng chính là đài quan trắc thiên văn… Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm này qua năm khác. Cột thiên văn chuẩn phải vừa tránh được thời tiết xâm hại, vừa bền vững nên chất liệu đồng đã được chọn. Muốn đo đầy đủ thì phải cử người ở lại làm việc, ít nhất là hằng năm tập hợp số liệu đem về kinh đô. Chuyện dân gian Việt Nam kể rằng Mã Viện từng dựng cột đồng ở Bắc Việt lại càng khẳng định đây là cột thiên văn chứ không phải mốc giới. Chẳng ai đem mốc giới để giữa nơi đô hội, để mỗi người đi qua ném một hòn đá vào đấy mong cột đừng đổ. Câu “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện ngầm bảo phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận. Cơ sự là thế! Con toán thiên văn nhỏ của tôi ở tiểu mục 1 là minh họa suốt bài viết này.

Giả thiết này khó thuyết phục bởi những nghịch lý sau: Một cột đồng đặc ruột thuần túy trồng giữa trời mưa nắng không thể gọi là một đài (?) thiên văn được. Theo người viết hiểu ý của tác giả là trụ đồng Mã Viện được sử dụng như là một cái cột chuẩn để đo lường sự di chuyển của bóng mặt trời, mặt trăng… Nếu chỉ với công dụng như vậy thì chẳng cần phải dùng cột đồng làm gì cho năng nhọc, thực hiện khó khăn (từ việc gom đồng, đúc cột, điêu khắc, di chuyển, dựng cột…), rất tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian. Ngoài ra còn viện lý do khỏi bị thời tiết xâm hại lại không chuẩn.

Vì rằng cột đồng to và cao đủ để đo bóng mặt trời thì rất nặng hàng tấn tạo sức ép trên một tiết diện nhỏ thì với thời tiết mưa lụt khí hậu ẩm thấp, đất ướt, mềm nở ra rất dễ bị lún, hay đổ ngã nguy hiểm. Với độ lún hằng năm của trụ đồng, thì độ đo đạc lại càng thiếu chính xác, sẽ làm giảm mất giá trị công dụng nói ở trên. Với trụ gỗ tốt vừa nhẹ, bền, dễ kiếm, dễ bảo quản, dễ thay thế, lại đạt yêu cầu trên có lẽ hợp lý hơn cột đồng.

Với uy danh của một tướng lãnh thống trị đương thời chắc chắn có rất nhiều cách để bảo quản trụ đồng cần gì phải ngầm bảo dân bị trị phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận bằng câu “Ðồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” vừa vô chính trị đối với một vị tướng văn võ toàn tài, vừa mất tư cách đạo đức của một kẻ đi thống trị. Với toán công tác thường trực ghi số liệu báo cáo hằng năm không đủ sức bảo quản trụ khí tượng hay sao, mà cần phải ngầm bảo dân bị trị coi sóc?

Cột mốc biên giới tại bờ thác Bản Giốc-Cao Bằng

3) Theo cổ sử, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi. Lối giải thích này cũng không thỏa đáng. Nếu là cột mốc biên giới tại sao không ghi những thông tin cần có của vùng biên giới mà lại ghi câu: “Trụ đồng chiết , Giao Chỉ diệt” trên cột đồng?

Thứ nữa là cột mốc biên giới tại sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?

Trụ sở làm việc của Ban quả lý dự án nhà máy luyện Alumin Tân Rai-Lâm Đồng


B – KIỂN THÀNH

Là công trình cụ thể thứ hai của Mã Viện đã hoàn thành trước khi về nước. Theo sách sử giải thích thành Kiển Giang có hình tổ kén của con tằm, như vậy nó có hình tròn và dài túm hai đầu, chứ không đơn giản là hình tròn ghi trong sử liệu, đã đem lại nhiều ngộ nhận cho người đọc sử.

Hình dáng của Kiển Thành cũng đem là nhiều nghi vấn. Thật vậy đây là loại thành quách quân sự rất hiếm thấy trong sử sách, là loại hình dài và gầy hẹp có rất nhiều nhược điểm như sau:

– Dễ bị tàn phá bởi thời tiết gió bão, thật vậy một trường thành dài và ốm sẽ hứng chịu nhiều sức tàn phá của gió bão hơn là một bức thành ngắn, tròn hay vuông và rộng.

– Mục đích xây thành cho dân ở vì dân số đông mà lại xây thành hình ốm và đài là không kinh tế và khó có thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu phát triển cư dân về lâu dài.

– Về mặt quân sự một trường thành dài rất khó trấn thủ vì tốn kém nhiều nhân lực canh gác, và khó tiếp ứng từ đầu này đến đầu khác.

Vì thế câu hỏi đặt ra là tại sao không xây thành hình vuông, đa giác lồi hay hình tròn bình thường như những thành quách khác mà lại xây thành hình cái kén? Ẩn ý của kiến trúc này là gì vẫn chưa được giải đáp trong sử sách.

Tóm lại, những nghịch lý trên của lịch sử đã trải qua gần 2.000 năm vẫn chưa được lý giải minh bạch dưới nhãn quang của các nhà sử học hay nhà khảo cổ. Thế nhưng, nếu nhìn sự việc trên đây bằng nhãn quang của một nhà phong thủy thì tất cả mọi nghi vấn trên đều được giải đáp thỏa đáng.

Cổng vào nhà máy luyện alumin có tượng hình sinh thực khí đàn bà, treo cờ của tập đoàn luyện alumin Chaleco Trung Quốc…

Thật vậy đây là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm hãm hại đất nước Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng dân tộc, thế nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu tặc.

Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là người Việt Nam, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan niệm của Trung Hoa như sau:

Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Ðế (sau công nguyên 40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đành các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua…

Ðến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư đảng, bọn Ðô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu hàng… (viethoc.org)

Vào thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những công trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân hành nghiêm túc quy luật địa lý phong thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt được hai Bà Trưng (?) đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu quái, trừ hậu hoạn, nhằm hãm hại đất nước ta không còn vua nữ giới nữa bằng những hành động như sau:

1- Mã Viện cho dựng một trụ đồng tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu, nghi vấn đặt ra là tại sao không đặt nơi đồng bằng trống trải dễ thấy hay tại những con đường đi lại giữa hai nước như là cột mốc bình thường mà lại đặt tại một hang động? Chỉ có thể trả lời là động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn vua nữa, dễ bề cai trị.

Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Ðồng chiết, Giao Chỉ diệt” bề ngoài như là hăm dọa, nhưng thực chất là khiêu khích lòng tự ái dân tộc của dân Giao Chỉ, sau đó ngầm hỗ trợ cho người dân mỗi ngày ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho trụ đồng không bị nghiêng ngả với thời gian, thứ hai trụ đồng nặng hàng tấn tạo một sức ép mạnh trên một tiết diện nhỏ thì dễ dàng từ từ lún sâu vào lòng đất mỗi khi thời tiết mưa ẩm, đất nở và mềm ra. Có như vậy mới che dấu được quỷ kế thâm độc của mình và tác dụng phong thủy lại càng tăng cao.

Trụ bêtông thời Hồ Cẩm Đào giống Dương Hoả Tượng, một loại bùa chú thời Hán có hình sinh thực khí đàn ông đóng vào sinh thực khí của đàn bà Giao Chỉ để tuyệt đường sinh sản ???

2- Ý nghĩa thật sự của câu: “Ðồng trụ chiết… Giao Chỉ Diệt”, Ðây là một câu thần phù còn ẩn dấu một hai chữ để che đậy âm mưu phá huyệt phong thủy. Thật vậy chữ Chiết ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai, ví dụ như chiết cành chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”. Chứ không thể dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết hoàn toàn phi lý. Như vậy câu trên có hai chữ bi ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương.

3- Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta tách rời hai sự kiện này ra thì sẽ không thấy âm mưu sâu độc của Mã Viện, vì thế người viết, kết hợp cả hai sự kiện này bằng một hình vẽ tượng hình, bạn đọc sẽ thấy rõ ràng hơn:

Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người đàn ông.

Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực – Lưỡng Nghi – Tứ Tượng – Bát Quái.

Bùa lưỡng nghi (loại tượng hình)
Nguồn: Thiên Ðức 8/2005



Theo thuật phong thủy, nói về nhà cửa thường sử dụng bùa bát quái để trấn yểm hướng xấu. Trong phạm vi rộng lớn của một đất nước, bùa bát quái không có hiệu lực, vì thế Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch.

Loại bùa này được thực hiện bởi hai công trình: Kiển Thành, Âm thủy và trụ Ðồng Mã Viện, Dương Hỏa.

Ngoài ra, nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là “Ðóng cọc người đàn bà Giao Chỉ” nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này. Với chứng cứ đê tiện này cũng có thể chứng minh truyền thuyết quân Mã Viện lúc giao chiến với đội quân nữ giới của Hai Bà đã chơi trò đồng loạt “Truồng cởi” làm hổ thẹn nữ binh không phải là không có lý.


Hàng cọc trụ móng bêtông được đào thủ công có giống với trụ đồng Mã Viện khi xưa ?

Tóm lại câu chuyện trên có thể kết luận như sau:

– Cột đồng Mã Viện là một dụng cụ phong thủy chôn tại động Cổ Sâm nhằm mục đích phá vỡ huyệt kết phát vương quyền của đất Giao Chỉ.

– Câu “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là một câu thần phù hay nói đúng lời là một lời nguyền có hiệu lực cho đến khi được giải mã (?).

– Hình dáng Kiển Thành kết hợp với trụ đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa Lưỡng Nghi nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc.

Sở dĩ loại bùa chú này có hiệu lực lâu dài bởi hội đủ những điều kiện sau đây:

– Ðặt đúng huyệt vị.

– Ðiều quan trọng nhất không ai có thể hại mình bằng chính mình hại mình. Dựa vào nguyên tắc này Mã Viện đã thâm hiểm khích tướng để cho dân Giao Chỉ ném đá vào trụ đồng để giữ vững cho chôn trụ đồng có thời gian tự lún sâu vào huyệt đạo tạo thêm hiệu lực cho bùa trấn yểm.

– Thời gian hiệu lực của bùa chú càng lâu dài nếu bí mật của nó chưa được tiết lậu, các sử gia Trung Quốc vì quyền lợi Trung Quốc đã che đậy sự việc này và dối trá cho đây chỉ là cột mốc biên giới đơn thuần mà không có giải thích toàn bộ sự kiện. Và theo truyền thuyết bùa ngải, phong thủy, nếu một người mà dùng bùa chú hại người khác nếu được cao nhân cứu giải thì loại bùa chú đó sẽ trở lại tác động với chủ nhân của nó. Vì thế người Trung Quốc rất sợ phản đòn và rất kín miệng về sự việc này.

Ngoài ra để cho đất Giao Chỉ không còn huyệt phát vua chúa nữa, Hán tộc đã âm thầm cướp trắng một phần đất của Giao Chỉ, trong đó có vùng châu Khâm động Cổ Sâm và xóa tan dấu tích để người dân Việt không còn phương cách truy cứu. Và sự việc này cũng không được ghi chép vào sử sách.

T.Đ

Toàn cảnh nhà máy luyện Alumin Tân Rai- Lâm Đồng trưng ở cổng vào nhà máy là Âm Thuỷ, một phần của bùa chú có tượng hình sinh thực khí đàn bà…

Đây ống khói bêtông cốt thép thời Hồ Cẩm Đào có là Dương Hoả Tượng có  tượng hình sinh thực khí đàn ông…

Một số hình ảnh về nhà máy luyện Alumin Lâm Đồng

-“Báo chí là diễn đàn của nhân dân. Rất mong báo chí hãy chắt lọc, lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng, những ý kiến phù hợp của nhân dân đóng góp cho Đảng. Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân;

– Ngoài ra, báo chí phải phản ánh các cuộc đấu tranh với quan liêu tiêu cực, tệ nạn xã hội để bộ máy ngày càng tốt hơn, gắn bó với nhân dân hơn, được nhân dân ngày càng tin cậy;

Báo chí cần thông tin sắc bén, nhanh nhạy hơn nữa về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.

Chúng ta đã có những bước đi bài bản để có được những chứng cứ  chính xác nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ nhưng thời gian tới cần phải làm mạnh mẽ hơn”… ( 1 )

Việc đòi hỏi cung cấp thông tin của người dân, doanh nghiệp một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch về hoạt động chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, là quyền chính đáng của người dân và doanh nghiệp”( 2)


ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG SẼ ĐƯỢC LÒNG DÂN !

Phạm Viết Đào.

Đó là 4 ý kiến chỉ đạo quan trọng mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phát biểu sáng ngày 23/2/2009 trong cuộc gặp gỡ đầu xuân với báo chí và với Ban biên tập Chinhphu.vn.

Theo tôi, 4 ý kiến phát biểu của Thủ tướng với báo chí trong ngày 23/2 đó đồng thời cũng là chỉ thị, nhiệm vụ trọng tâm của báo giới và cùng là nguyện vọng của đông đảo bạn đọc, của toàn dân về hoạt động thông tin báo chí…

Do vậy, nếu Thủ tướng triển khai được ngay lập tức các biện pháp để các ý kiến đó của ông đi vào đời sống thực tiễn báo chí và xã hội thì sẽ rất được lòng dân!

Lần đầu tiên, người viết Blog này được “mục sở thị” những ý kiến minh bạch, sòng phẳng, rõ ràng của người đứng đầu Chính phủ về các vấn đề liên quan tới đưa tin, thông tin trên báo chí. Qua những ý kiến trên chứng tỏ: Thủ tướng là người hiểu rõ, hiểu sâu về chức năng và nhiệm vụ của báo chí cũng như mối quan hệ giữa thông tin báo chí với bạn đọc và chức năng quản lý nhà nước về báo chí của Chính phủ.

Vấn đề quan trọng là những ý kiến đó phải được nhanh chóng triển khai áp dụng vào thực tiễn. Mong rằng Văn phòng Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý báo chỉ quán triệt sâu sắc 4 ý kiến trên của Thủ tướng để hoạt động thông tin báo chí được phát triển đúng chức năng và để được nhân dân tin cậy.

Chúng tôi không rõ lý do gì: đọc bản tin TTXVN được báo Điện tử ĐCSVN đưa lại, đã ghi lại các ý kiến trên của Thủ tướng theo cách tóm lược ý chính và không đưa lại nguyên văn. Không nhẽ ý kiến phát biểu của Thủ tướng cũng được biên tập hay Vietnamnet và Chinhphu.vn đưa tin không chính xác ?

Theo ý kiến của Thủ tướng: Báo chí là diễn đàn của toàn dân, thế nhưng không ít tờ báo trên măngsec vẫn còn ghi tiếng nói của cơ quan, tổ chức đoàn thể… nọ kia trước rồi mới đến là tiếng nói của nhân dân; ít tờ báo ghi rõ ngay đây là diễn đàn của nhân dân như tuyên bố của Thủ tướng.

Để triển khai chỉ thị này của Thủ tướng, theo tôi sắp tới các cơ quan chức năng quản lý báo chỉ cần triển khai ngay tư tưởng chỉ đạo này tới các Tổng biên tập, tới phóng viên, biên tập viên để bài vở được đưa theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng; báo chí thật sự “ chắt lọc, lắng nghe và phản ánh những ý kiến sáng láng, xác đáng, những ý kiến phù hợp của nhân dân đóng góp cho Đảng. Đừng bỏ sót bất kỳ ý kiến hay, bất kỳ ý kiến xây dựng nào của người dân”.

Nhân ý kiến của Thủ tướng, tôi xin kiến nghị các cơ quan chức năng quản lý báo chí cần thể chế làm rõ, luật định, quy chế hoá, nghiệp vụ hoá chỉ thỉ của Thủ tướng về khái niệm thế nào là “những ý kiến phù hợp của nhân dân” để cho các phóng viên, biên tập viên, các tổng biên tập khi thu thập duyệt đưa tin không lúng túng, tuỳ tiện cắt bỏ mất những thông tin có khi là rất xây dựng, rất sáng láng nhưng bị cho là “không phù hợp”…Bởi vì khái niệm ” không phù hợp” rất hay bị  lạm dụng dẫn tới “cao su hoá”, “hành chính hoá” hoặc “hình sự hoá”…Kết cục là những thông tin sáng láng đó có khi đã bị chết yểu trên bàn Tổng Biên tập hay trong cặp phóng viên.

Đây thật sự là chuyện bếp núc  thường bắt gặp trong hoạt động báo chí. Điều này xuất phát từ trình độ, kỹ năng, tâm lý “cánh chim sợ làn giây cong” nên một số phóng viên, biên tập viên thậm chỉ một số tổng biên tập đã tự ý kiểm duyệt, cắt bỏ, không dám đưa lên mặt báo những ý kiến đích thực là của nhân dân; song những ý kiến đó bị coi là “không phù hợp”, do vậy để giữ an toàn cho tờ báo nên đã cho vào ngăn kéo.

Điều quan trọng hơn, báo chí chỉ là cơ quan đưa tin, trách nhiệm xử lý các thông tin do báo chỉ nêu là thuộc chức năng của Chính phủ, các cơ quan chuyên ngành và các đoàn thể xã hội.

Báo chí nêu, đưa ” những ý kiến sáng láng, xác đáng, những ý kiến phù hợp của nhân dân đóng góp cho Đảng…” nhưng các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan chức năng có liên quan cứ để ngoài tai thì sự hăng hái đưa tin phỏng có tác dụng gì. Do vậy, suy cho cùng trái bóng trách nhiệm để báo chỉ thực thi có hiệu quả đúng chức năng cũng như những nhiệm vụ được Thủ tướng giao cuối cùng vẫn thuộc về Thủ tướng và các cơ quan chức năng quản lý báo chí.

Cần có cơ chế đôn đốc, giám sát cưỡng chế việc vận hành cơ chế qun lý phối hợp các quan hệ tương tác giữa cơ quan báo chí- cơ quan chức năng quản lý báo chí-các cơ quan liên quan tới thông tin báo chí và độc giả thì ý kiến chỉ đạo trên của Thủ tướng mới có hiệu quả thực tiễn, mới “gắn bó với nhân dân hơn, được nhân dân ngày càng tin cậy…” như chỉ thị của Thủ tướng !

Thc ra thì trưc đây B Văn hoá-Thông tin khi còn quản lý nhàớc v báo chí đã ban hành một s quy định v trách nhiệm của người đứng đu các cơ quan, đoàn th phải chịu trách nhiệm thông tin và tr lời các thông tin báo chí nêu nhưng rất nhiu v việc người ta l đi và báo ch thì lại ch có mỗi quyn nêu thông tin.

Mới đây, việc bức thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếuớng Nguyễn Trọng Vĩnh gửi cho một s đồng chí, cơ quan có trách nhiệm của Đảng và Nhàớc đ ngh xem xét việc 10 tỉnh cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê 305.3534 ha rừng trong 50 năm đã được đưa lên mạng; thông tin này đã được một s cơ quan thông tấnớc ngoài đưa nhưng không thấy báo chí Việt Nam chính thc đưa tin.

Đt đai theo quy định của Hiến pháp và Luật đất đai là thuộc s hữu toàn dân, do đó những thông tin như trên ngưi ch s hữu là ngưi dân theo luật phải được thông tin chính thức khi đem tài sản đó cho ngưi nước ngoài thuê; nhưng cho đến nay ngưi dân lại không được thông tin.

Vậy những thông tin trên có thuc diện “ không phù hợp” nên báo chí không đưa không khi mà Thủ tướng đã tuyên bố:” Báo chí cần thông tin sắc bén, nhanh nhạy hơn nữa về bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.Chúng ta đã có những bước đi bài bản để có được những chứng cứ  chính xác nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ nhưng thời gian tới cần phải làm mạnh mẽ hơn…”

Hiện nay dư luận đang hoang mang trưc thông tin này vì liên quan tới Trung Quốc. Những ông ch đất đai rất muốn được thông tin đ yên lòng và đồng thuận với các việc làm của các cơ quan chức năng do dân bầu ra bởi các cơ quan này là: của dân, do dân và vì dân…Dân không biết gì thì kim tra giám sát cài gì? Chính Thớng đã phát biểu trong buổi làm việc với Ban biên tập Cổng Chinhphu.vn: ”Việc đòi hỏi cung cấp thông tin của người dân, doanh nghiệp một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch về hoạt động chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, là quyền chính đáng của người dân và doanh nghiệp…”

Rất mong Th tướng lắng nghe và thấu hiu nỗi lo lắng này của rất nhiu ngưi dân xung quanh chuyện cho ngưi Trung Quốc thuê 305.3534 ha rừng tại 10 tỉnh. Chính ph sớm có s gii thích công khai trên báo chí đ cho dân hiểu vì đất đai thuộc s hữu toàn dân và do Chính ph thống nhất quản lý như luật định. Việc sớm đưa tin, giải thích việc cho ngưi nước ngoài thuê đất rừng này s góp phn an dân đ nhân dân ngày càng tin tưởng sâu sắc hơn, đồng thuận rộng rãi hơn với các quyết sách của Chính ph.

https://i0.wp.com/files.myopera.com/Huongdai_lov/albums/665560/Th%E1%BB%A7%20t%C6%B0%E1%BB%9Bng%20nguy%E1%BB%85n%20T%E1%BA%A5n%20D%C5%A9ng%20trao%20cup%20v%C3%B4%20%C4%91%E1%BB%8Bch%20cho%20%C4%91%E1%BB%99i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Fng%20Phan%20V%C4%83n%20T%C3%A0i%20%20Emjpg.jpg

Bởi Quốc hội, Chính ph đã ban hành các quy định pháp luật cho phép Ch tịch tỉnh được quyn ký cho thuê đất t bao nhiêu ha; t bao nhiêu ha phải trình Thng; có những loại đất rừng muốn khai thác, đu tư phải thông qua Quốc hội và phải có đánh giá môi trường chiếnợc được Bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua

P.V.Đ

1/( Nguồn: Vietnamnet )

2/ Nguồn: Chinhphu.vn

TTO – Làng Thủy Ba (Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh, Quảng Trị) nổi tiếng khắp nước và thế giới bởi nghề bắt hổ. Sử sách chép rằng nghề bắt hổ ra đời từ rất xưa; vào thời phong kiến, không ít lần miền đất xứ Trị Thiên bị hổ dữ hoành hành, vua ở Kinh thành Huế đã phải ban chiếu lệnh triệu người Thủy Ba vào bắt hổ. Ngày nay, làng còn lại duy nhất một cụ ông trong đội quân bắt hổ ngày đó. Cụ là Nguyễn Đăng Hạp, năm nay 95 tuổi.

Cụ Nguyễn Đăng Hạp, người duy nhất còn lại trong đội quân bắt hổ ở làng Thủy Ba – Ảnh: Ngọc Uyên

Căn nhà cũ kỹ của gia đình cụ Hạp ở phía cuối làng. Trong căn nhà rộn rã tiếng cười nói của con cháu và đầy những huân huy chương, bằng khen của các thế hệ. Riêng cụ Hạp có chừng 10 cái, trong đó 2 huân chương kháng chiến chống Pháp, Mỹ hạng nhất và nhì…

Tôi hỏi hồi trước cụ bắt hổ thế nào? Tinh thần cụ Hạp bỗng trở nên minh mẫn lạ thường; cụ cầm viên than bước thoăn thoắt ra hiên nhà, vẽ lên đó một trận đồ đánh hổ vốn đã ăn sâu trong trí nhớ của cụ.

Trận đồ là những vàng lưới, đội quân trai tráng hùng mạnh cùng với những cây đinh ba, giáo mác… Lưới kết bằng một loại cây thân leo ở rừng già, to bằng bắp tay người lớn. Cây này được đập dập cho đến lúc nhũn, bóc bỏ lớp vỏ ngoài và nấu bằng lửa than. Việc kết lưới rất công phu, sau vài tháng trời mới xong một tay lưới, với chiều dài 15-20m, cao 4-5m, ô lưới rộng 10cm…

Những năm 1930, miền đất Thủy Ba vẫn ngút ngàn rừng già với lắm thú dữ, nhiều nhất là hổ. Hổ rình rập quanh làng, bắt người và trâu, bò. Nhiều con khôn ranh đến nỗi đêm đến sục vào khu dân cư, dùng đuôi gõ cửa nhà, chủ nhà tưởng có người kêu, dậy mở cửa là bị hổ vồ liền. Để đối phó với thú dữ, làng Thủy Ba ngày đó đã sinh ra nghề bắt hổ. Bên cạnh dụng cụ trên, đội quân bắt hổ phải có sức mạnh và tinh thông võ nghệ.

Sau khi đã hoàn thành việc bủa lưới bao vây, đội quân bắt hổ được bố trí vào những vị trí chiến đấu, trong đó hai người đóng vai trò đặc biệt quan trọng là anh Cai và Thập. Hai anh này có khả năng nhìn bao quát được địa hình và phán đoán chính xác sự di chuyển của con hổ. Sau khi phát lệnh tấn công, họ còn đảm nhận nhiệm vụ khép các gốc lưới và tiên phong vào đè cổ, đè bụng, trói mồm con hổ…

Năm 20 tuổi, chàng trai Nguyễn Đăng Hạp được đứng vào các vị trí chủ chốt của đội quân bắt hổ Thủy Ba. Qua nhiều lần tham gia bắt được hổ dữ và cho đến bây giờ, trong cảm giác của cụ vẫn còn thấy kinh sợ với con hổ 3 chân chuyên ăn người ở làng. Giữa mùa thu năm 1945, chừng 1 năm sau khi con hổ trên bị bắn mất một chân, nó đã trở lại vùng rừng già Thủy Ba để tìm người trả thù.

Ba lần đội quân bắt hổ Thủy Ba lần tìm dấu vết, tổ chức vây bắt nó nhưng không thành. Sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, chàng trai Hạp hiến kế: yhay vì bủa một vòng lưới như thường lệ, phải bủa tới 3 vòng lưới nhỏ dần ở khu rừng có con hổ 3 chân. Toàn bộ số người tham gia bắt hổ với đinh ba, giáo mác sẵn sàng trong tay, áng binh bất động ở vòng ngoài cùng. Bên cạnh, 3 người đứng trên 3 chòi canh cao, theo dõi con hổ cho tới khi nó đụng lưới chạy vào vòng trung tâm.

Lúc này, người chỉ huy phát lệnh: Thủy Ba đứng dậy cho đều. Nào khép lưới, tấn công! Thế nhưng con hổ hết sức ranh mãnh đó đã lùi lại ở vòng lưới trung tâm và đang trong tư thế nằm im, bỗng lao vút lên cao. Hàng chục đinh ba, giáo mác đã đâm trượt nó. Con hổ lao mạnh về phía đám đông; mọi người dáo dác, dạt ra. Nó thêm một cú lao, lần này nhằm thẳng vào chàng trai Hạp. Trong chớp mắt, anh đã đủ bình tĩnh đối phó với nó bằng một chiêu thức võ nghệ tinh luyện… Năm đó, chính quyền tỉnh Quảng Trị đã tặng cho dân làng Thủy Ba 5 con trâu cày vì có công bắt được hổ dữ.

Năm 1945, chàng trai Nguyễn Đăng Hạp đi theo cách mạng, tham gia chiến đấu chống Pháp rồi chống Mỹ trên khắp chiến trường Bình Trị Thừa Thiên. Ông bộc bạch, nhờ cách mạng mà ông và dân làng Thủy Ba thoát ra khỏi được kiếp lầm than.

“Thời phong kiến cực khổ lắm; ba tui khỏe mạnh, giỏi võ nghệ nên cũng phải tham gia vào đội quân bắt hổ của làng. Ngày đó, hổ dữ ở gần Kinh thành Huế cũng nhiều nên ông và người làng thường bị vua triệu vào đó để bắt”- cụ Hạp kể.

An hưởng tuổi già với con cháu đề huề sung túc và mặc dù ở tuổi 95, cụ chẳng thể lên rừng như thuở còn trai tráng, song cụ Hạp lại ước ao một điều: được đi khắp các vùng rừng già của quê hương để góp chút hiểu biết của mình vào việc bảo tồn các loài thú quý.

NGỌC UYÊN

Đăng bởi: phamvietdaonv | 11.02.2010

VỀ VIỆC CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THUÊ RỪNG

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạnTrung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.(Bauxite Việt Nam)
Theo chỉ  thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ  trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá  hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có  biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Chúng tôi  đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị  đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán  rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái  định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 2010
Đồng Sĩ Nguyên – Nguyễn Trọng Vĩnh

Nguồn:
Đăng bởi: phamvietdaonv | 07.02.2010

ĐỂ ANH ĐI TRẨY NƯỚC NON CAO BẰNG…


* Cao Bằng, nơi có cột mốc biên giới số 108, nơi Cụ Hồ chọn làm điểm đặt chân đầu tiên để mưu cầu đại nghiệp sau 30 năm bôn ba hải ngoại;

* Con số 108 là một con số huyền bí của vũ trụ, của thế giới vật chất và tâm linh:

–  Đường xa cách giữa kim tinh (venus) và mặt trời là 108 triệu km; hiện nay con số 108 triệu km đang được các nhà thiên văn học dùng làm đơn vị đo lường khoảng cách từ trái đất đến các hành tinh khác ?

– Cổ của loài tinh trùng nào cũng có một cặp trung tử (centriole), mỗi cặp có 9 bó sợi, mỗi bó sợi có 3 vi ống (microtubbles) tức là 27 vi ống của mỗi trung tử, 54 vi ống trong một cặp và sẽ là 108 vi ống khi cặp này nhân đôi để chia thành 2 tế bào con?

-Con số 108 có liên quan tới hai tôn giáo lớn của thế giới, đó là Phật giáo và Kito giáo: số 54 và 108 chính là con số trong các chuỗi hạt (tràng hạt) của đạo Kitô (54) và đạo Phật (108).

– Bảng tuần hoàn Mendeleev: có 108 nguyên tố hoá học được tìm ra trong tự nhiên đã được phân bổ, khép kín với những liên kết nội tại được Mendeleev tìm ra và sắp xếp trong bảng tuần hoàn.

Khi Mendeleev tìm ra Bảng tuần hoàn, thế giới thời ông mới tìm ra được 63 nguyên tố; hiện nay con số đã lên tới 108 nguyên tố mà không phá vỡ, đảo lộn cấu trúc của Bảng tuần hoàn do ông phát minh ra ?

– Tử Vi đẩu số do Trần Đoàn đời Tống lập một khoa một đoán định về tương lai và hậu vận về số mạng của một con người dựa vào phép cân đẩu sao. Theo lý giải và lập luận của Trần Đoàn, bản mạng của con người bị chi phối bởi 108 ngôi sao trong một lá số Tử Vi?

– Có 108 anh hùng tụ nghĩa về Lương Sơn Bạc ?

– Chiến thắng mùa xuân 1975 khởi đầu tại Buôn Ma Thuột: thành phố này nằm  trên kinh tuyến số 108 đông bán cầu ?

– Hà Nội có Bệnh viện 108 giành để dưỡng bệnh cho quân nhân ?

Bút ký của Phạm Viết Đào.


Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng…

Đi trẩy Cao Bằng”… trong câu ca dao xưa không phải là đi trẩy hội theo cái nghĩa ngày nay; “đi trẩy Cao Bằng ” thời xưa đó là việc của người lính thú, vâng lệnh vua, tạm biệt gia đình vợ con lên miền sơn cước Cao Bằng để làm nhiệm vụ bảo vệ, gìn gìn biên cương tổ quốc; để lại người vợ trẻ phải quanh năm mòn mỏi, nỉ non ở quê vì vất vả, cô quạnh…

Cao Bằng mảnh đất biên cương phía bắc của Tổ quốc đã in dấu vào ca dao, vào tâm thức của cư đân Đại Việt bởi nó đã thấm đượm mồ hôi, xương máu cùng với những giọt nước mắt nỉ non của biết bao thế hệ người Việt.

Xin lưu ý cha ông xưa của chúng ta khi “ đi trẩy nước non Cao Bằng” là đi bộ và phải len rừng lội suối mà đi chứ đâu phải đi bằng những chiếc xe hai cầu trên đường nhựa láng bóng như chúng ta ngày nay.

Để lại vợ trẻ, con dại ở quê thế mà cha ông ta vẫn giữ tròn biên cương của Tổ quốc, không để mất một tấc đất nào vào tay giặc. Câu ca dao ” đi trẩy nước non Cao Bằng “ làm cho người viết cảm thấy chạnh lòng, cảm thấy buốt đau về trách nhiệm trước tiền nhân trong việc giữ gìn giang sơn gấm vóc…

Sau hội nghị quốc tế, quảng bá văn học Việt Nam tôi rủ nhà văn Constantin Lupeanu, nguyên Đại sứ Romania tại Việt Nam, người đã dịch Nhật ký trong tù và Thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Romania; ông đã giúp tôi hoàn thiện Đặng Thùy Trâm bản tiếng Romania lên thăm miền biên viễn này bởi các lý do: Cao Bằng có địa danh Cốc Pó, là nơi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên về Việt Nam sau bao năm bôn ba hải ngoại.

Cao Bằng là nơi có 2 thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam, xứng đáng được công nhận là Di sản thiên thế giới: động Ngườm Ngao và thác Bản Giốc.

Điều thú vị thứ ba, tôi muốn đưa Lupeanu đi thăm một “ sản phẩm” có công sức đầu tư của Romania: Đó là Dự án xây dựng Tổ hợp Mỏ-Luyện kim Cao Bằng do Công ty cổ phần Khoáng sản và luyện kim Việt Nam ( MIREX ) là chủ đầu tư. Đây là dự án đầu tư mới đã được phê duyệt là Dự án trọng điểm quốc gia đầu tư bằng nguồn vốn tự có của Chủ Đầu tư, vốn vay từ ngân hàng thương mại, vốn vay tín dụng ưu đãi của Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.

Dự án này sử dụng công nghệ hoàn nguyên trực tiếp phi cốc sản xuất ra sắt xốp và luyện thép bằng độc quyền sáng chế số 7386 và 7387 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 25/12/2008, tác giả của sáng chế này là kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh, một người được Romania đào tạo.

Bí thư tỉnh uỷ tỉnh Cao Bằng bàn bạc về triển khai dự án với Chủ tịch HĐQT Nguyễn Xuân Liêu và Giám đốc Nguyễn Ngọc Linh…

Dự án này khi thành công giúp cho ngành luyện thép Việt Nam vượt được cửa ải vũ môn: không cần phải sử dụng than cốc, một nguyên liệu Việt Nam không có đủ để sử dụng cho những dự án đầu tư luyện thép lớn; trong khi đó chúng ta lại có nguồn  than gầy antraxit với trữ lượng rất lớn tại Quảng Ninh và quặng sắt dồi dào nằm rải rác tại nhiều vùng của đất nước trong đó có Cao Bằng…

Nếu sử dụng được than antraxit, tức than gầy Quảng Ninh mà vẫn cho ra sắt xốp nguyên liệu cơ bản để luyện ra thép; như vậy, công nghệ này sử dụng được nguyên liệu tại chỗ, lại vừa hạ được giá thành sản phẩm.

Hiện nay giá trên thị trường 1 tấn than cốc trên 6 triệu đồng, trong khi giá than antraxit chỉ non nửa…Đây là một dự án có ý nghĩa kinh tế-xã hội-chính trị và khoa học kỹ thuật rộng lớn

Chúng tôi “đi trẩy” Cao Bằng lần này theo lời mời của kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh hiện là Giám đốc kỹ thuật của dự án này.

Điều thứ tư, chuyến đi trẩy Cao Bằng lần nay đối với tôi còn vương vấn chút tâm linh. Gia phả họ Phạm Viết của tôi ở Cát Văn, Thanh Chương Nghệ An có ghi: ông tổ của chi họ Phạm Viết của chúng tôi là cụ Phạm Công Trí, một Cẩm y vệ nội triều Lê,  vốn xuất thân từ Cao Bằng; tổ tiên của họ chúng tôi xuất thân là người lính thú bảo vệ miền biên viễn Cao Bằng, do lập được công nên được điều về kinh đô sung vào đội quân cấm vệ.

Đến đời cụ Phạm Viết Phấn, dưới thời Tây Sơn, do lập được công trạng, chắc nằm trong số 10 vạn tinh binh mà Nguyễn Huệ tuyển mộ khi dừng chân ở Nghệ An, tham gia đánh bại 29 vạn quân Thanh trong vòng 10 ngày đêm. Do lập được công trạng nên khi hồi hưu đã được sắc phong, cắm đất tại làng Bài Đông, hiện nay ở xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An lập nên chi họ Phạm Viết truyền đến thế hệ chúng tôi gần 10 đời…

Tổ tiên chi họ Phạm Viết của tôi qua nhiều đời đều đã gắn bó với sự nghiệp bảo vệ biên cương tổ quốc ở miền biên viễn Cao Bằng; do vậy, đi trẩy Cao Bằng đối với cá nhân tôi còn hàm nghĩa là hành hương về đất tổ của dòng tộc mình.

Cột mốc 108

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên

Ngoài những lý do kể trên, chuyến đi trẩy Cao Bằng đầu Xuân Canh Dần đối với tôi còn bị ám ảnh bởi mảnh đất này liên quan tới con số 108, một con số phảng phất chút tâm linh.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba hải ngoại, Cụ Hồ quay trở về nước để chuẩn bị cho công cuộc giành độc lập dân tộc, một đại nghiệp của cả dân tộc và của cả bản thân cụ; Cụ Hồ đã chọn lối đi qua xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tại cột mốc số 108 để đặt bước chân đầu tiên cho việc tiến hành đại nghiệp...

Con số 108 còn liên quan tới rất nhiều điều bí ẩn khác của Việt Nam và thế giới. Đường xa cách giữa kim tinh (venus) và mặt trời là 108 triệu km; hiện nay con số 108 triệu km đang được các nhà thiên văn học dùng làm đơn vị đo lường khoảng cách từ trái đất đến các hành tinh khác.

Để duy trì phản ứng nhiệt hạch ổn định của mình, mặt trời nở ra và co lại đều đặn theo chu kỳ 9 lần trong một ngày đêm của trái đất. Con số 9 là con số căn bậc 2 của 81, tức là số lần thua thiệt của mặt trăng so với trái đất về khối lượng. Đó cũng chính là số 9 bó sợi chung quanh đuôi của các tinh trùng để giúp nó bơi lội đến tế bào trứng để tạo ra sự sản sinh nòi giống!

Cổ của loài tinh trùng nào cũng có một cặp trung tử (centriole), mỗi cặp có 9 bó sợi, mỗi bó sợi có 3 vi ống (microtubbles) tức là 27 vi ống của mỗi trung tử, 54 vi ống trong một cặp và sẽ là 108 vi ống khi cặp này nhân đôi để chia thành 2 tế bào con.

Một sự huyền diệu kỳ lạ nữa về con số 108: số 54 và 108 chính là con số trong các chuỗi hạt (tràng hạt) của đạo Kitô (54) và đạo Phật (108).

Con số 108 còn liên quan tới tổng số các nguyên tố trong Bảng tuần hoàn Mendeleev: có 108 nguyên tố hoá học được tìm ra trong tự nhiên đã được phân bổ, khép kín với những liên kết nội tại được Mendeleev tìm ra và sắp xếp trong bảng tuần hoàn.

Khi Mendeleev tìm ra Bảng tuần hoàn, thế giới thời ông mới tìm ra được 63 nguyên tố; hiện nay con số đã lên tới 108 nguyên tố mà không phá vỡ, đảo lộn cấu trúc của Bảng tuần hoàn do ông phát minh ra.

Trong số gần 40 nguyên tố được tìm ra sau khi có Bảng tuần hoàn, có 1 nguyên tố được nhà bác học Pháp Marie Curie tìm thấy tại giải đất Ngân Sơn, Cao Bằng và nó được tên của bà, đây là thua thiệt đối với Cao Bằng và của Việt Nam. Theo thông lệ, nguyên tố hoá học mới nào được tìm thấy ở địa phương nào thì thường lấy tên của địa phương đó đặt cho nguyên tố đó. Do chúng ta là thuộc địa của Pháp nên đã không bảo vệ được bản quyền…

Con số 108 còn liên quan tới lá số Tử Vi mà Trần Đoàn đời Tống lập nên làm nền tảng cho khoa Tử vi Đẩu số, một khoa một đoán định về tương lai và hậu vận về số mạng của một con người dựa vào phép cân đẩu sao. Theo lý giải và lập luận của Trần Đoàn, bản mạng của con người bị chi phối bởi 108 Thiên Hà ngoài trái đất; nếu Trần Đoàn gọi các thiên hà đó  là Tử Vi, Vũ Khúc Thiên tướng, Thiên Lương .v.v. thì có phải Mendeleev và các nhà khoa học đương đại  đặt theo tên là Đồng, Chì, Sắt…chăng ? Có liên quan gì với nhau về cách lý giải về cấu trúc vũ trụ của 2 bậc tiền nhân này: một người Nga, một người Trung Quốc…

Liệu có sự trùng hợp nào chăng giữa mối liên hệ giữa thế giới vật chất và tâm linh; giữa cấu tạo vật chất trong cơ thể của mỗi con người với thế giới tinh thần, tâm linh có liên quan tới sinh mạng, với số phận của từng con người. Dựa trên nguyên lý sự tác động qua lại giữa vật chất ngoài vũ trụ thông qua các vì sao mà ảnh hưởng đến tố chất của từng con người. Marx từng định nghĩa: hoàn cảnh cộng tư chất sẽ tạo thành số phận. Trần Đoàn và Mendeleev đã phát hiện ra qua các quy luật liên kết nội tạng giữa các nguyên tố-thiên hà với sinh thể con người.

Hiện nay các nhà Tử Vi thường lý giải số mạng của mỗi con người căn cứ vào sự hội tụ của các vì sao ( bàng chiếu hay trực chiếu ) mà tìm ra đáp số và số phận của mỗi con người. Về nguyên lý cách lý giải của các nhà Tử Vi không khác gì các nhà hoá học giải các bài toán về cân bằng các phương trình hoá học cả…

Trận thắng đầu tiên mở đầu trận chiến mùa xuân 1975 xảy ra tại Buôn Ma Thuột, thị xã này cũng nằm trên kinh tuyến 108 đông bán cầu.

1955 Liên Xô viện trợ cho chúng ta một bệnh viện được xây dựng trên cơ sở Nhà thương Đồn Thuỷ; Nhà thương này chia 2 phía quay mặt ra bến Vân Đồn gọi là Việt Xô nay đổi là Hữu Nghị, phía ra Trần Hưng Đạo gọi là 108, giành cho quân đội? Chưa ai giải thích tại sao lại đặt tên là Bệnh viện 108 ?

Con số 108 còn làm cho tôi liên tưởng nơi tụ nghĩa của 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

Liệu Cao Bằng có là nơi tụ nghĩa của những trang hảo hớn nuôi chí khai sơn, phá thạch, mưu cầu nghiệp lớn không? Sau Hồ Chí Minh  sẽ còn ai lấy Cao Bằng làm nơi lập nghiệp ?

Xe chúng tôi đi theo ngả Lạng Sơn, rẽ qua Thất Khê và Đông Khê để lên Cao Bằng. Chúng tôi chọn đường này vì dễ đi hơn là đi qua ngả Bắc Cạn; lúc về sẽ qua ngả đường Bắc Cạn để có dịp nhìn ngắm những cảnh non sông hùng vĩ của giải đất biên cương phía bắc của Tổ quốc. Có lên Cao Bằng mới thấm thía được ý nghĩa về sự hoành tráng của cụm từ “ sơn hà-xã tắc”

Xe lên Cao Bằng phải len lỏi men theo những triền núi đá vôi hùng vĩ, nhấp nhô với những hình thù cổ quái. Thỉnh thoảng ngồi trên xe chúng tôi lại giật thót mình, đứng tim bởi xe phải cua, phanh gấp tại những khúc quanh, hoặc bất chợt xuất hiện trước mũi xe chiếc xe đi chiều ngược lại chỉ cách có dăm mét.

Lên Cao Bằng, nếu lái xe không quen đường, hoặc sơ sẩy một tý, lơ mơ buồn ngủ một tý, tay lái không vững là có thể ngoặt xe xuống vực sâu trong chớp mắt hoặc húc đầu vào đá…

Lúc đi xe vừa qua khu vực Đông Khê, Nguyễn Ngọc Linh chỉ cho chúng tôi ngước mắt nhìn dãy núi bên trái đường, đó là nơi năm xưa, có hình ảnh Cụ Hồ đăm chiêu ngồi ngắm nhìn trận tấn công vào đồn Đông Khê trong chiến dịch Biên giới năm 1950 của bộ đội ta; khoảnh khắc này được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An ghi lại trong một bức ảnh lịch sử.

Xe vượt qua Đông Khê độ vài chục km, đoàn chúng tôi đã gặp phải một cú kẹt xe hy hữu, may mắn không xảy ra tai nạn. Một chiếc xe côngtơnơ kẹt cứng một chiếc xe tải ngược chiều vào hẻm đá tại cua gấp ngay trên đỉnh đèo. Chỉ cần không vững tay lái là chiếc xe côngtơnơ kia, dài gần chục met đã lăn đùng xuống vực vì bánh trước cách mé đường chỉ có vài chục cm.

Chiếc xe công tơ nơ leo từ bên kia dốc sang kẹt phải chiếc xe tải cũng lao từ bên ngả Lạng Sơn lên, hai bên kẹt nhau ở đỉnh đèo. Chiếc xe tải do không ngờ  ngược chiều với mình là chiếc xe côngtơnơ khá dài, cả hai đều không chịu nhường đường vì đều đang leo dốc, thành ra mới xảy ra cảnh: Hai chiếc xe kẹt nhau ở đỉnh đèo: một bên là núi cao, một bên là vực thẳm, còn phía sau là dốc trôi…

Chúng tôi phải dừng mất gần 30 phút để khắc phục sự cố. Chiếc xe tải cùng đường với chúng tôi lùi trước để lấy chỗ cho chiếc xe côngtơnơ cùng lùi lại phía bên kia dốc, lấy lối cho đoàn xe bên này vượt lên, giải phóng đường. Chiếc xe côntơnơ dài như vậy mà từ đỉnh đèo  phải lùi xuống, mà lại không lùi theo đường thẳng, quả là một việc không dễ dàng. Chỉ cần tay lái không vững hay một trục trặc kỹ thuật là có thể lao ấm xuống dốc va vào cả đoàn xe phía sau. May mắn, chiếc xe đã lùi an toàn nhường lối cho đoàn xe phía chúng tôi lao lên, giải phóng đường.

Khi có đường, xe chúng tôi lao lên, điều làm cho tôi sởn gai ốc là sau chiếc xe còn có gần một chục chiếc xe được xếp vào diện siêu trường, siêu trọng nối đuôi phía sau. Tất cả đều mang biển số xe 38, biển số xe Hà Tĩnh. Cường, cậu lái xe chúng tôi tặc lưỡi: chắc các bố lại chở quặng titan từ Hà Tĩnh lên của khẩu Tà Lùng-Cao Bằng xuất bán cho Trung Quốc.

Báo chí đã đưa nhiều về các vụ đào bới chặt phá rừng phòng hộ tại các bãi biển miền trung để tìm quặng Titan và đây là đầu ra của các hoạt động khai khoáng, bán nguyên liệu thô này đây. Mặc dù các cơ quan chức năng đang hô hào trên báo và trên các diễn đàn tại Hà Nội cần phải cấm xuất khẩu nguyên liệu thô? Mệnh lệnh đó hình như không hiệu lực gì đối với những cửa khẩu đường biên heo hút này…

Có nhìn thấy cảnh này mới hiểu được những khát vọng đang nung nấu trong những con người như Nguyễn Ngọc Linh, đang xót xa trước cảnh hàng ngày hàng giòng xe chở nhiều thứ quặng thô xuất sang Trung Quốc và các nước khác.Có thứ xuất chính ngạch, có thứ xuất tiểu ngạch, có thứ xuất lậu.

Vừa đi Nguyễn Ngọc Linh vừa say sưa, tranh thủ kể cho chúng tôi về tiềm năng của mảnh đất Cao Bằng, một nàng công chúa đang bị giam hãm trong các lèn đá cheo leo, đang chờ bàn tay và khối óc của các hiệp sĩ có tài năng và dunga cảm lên để làm cho vẻ đẹp của nó được toả sáng.

Nếu không có cách gì để khai thác và chế biến thì cái biển quặng sắt Cao Bằng mà Tập đoàn MIREX được giao quản lý để khai thác kia rồi cũng sẽ tìm đường bò sang Trung Quốc…Theo Nguyễn Ngọc Linh, với công suất thiết kế, nguồn quặng sắt Cao Bằng đủ sử dụng trong 30 năm…

Đã có lần tôi đùa với Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc kỹ thuật của Dự án và Nguyễn Xuân Liêu, Chủ tịch Hội đồng quản trị Dự án, cả hai đều là dân Nghệ: Các ông sẽ là những hiệp sĩ, những hoàng tử dám lao vào thử thách để đánh thức nàng công chúa của mảnh đất Cao Bằng…Các ông đã tụ nghĩa đủ 108 hảo hớn kéo lên mảnh đất này để khai sơn phá thạch chưa ?

Cuộc chinh phục nào mà không phải trả giá cho sự phiêu lưu, mạo hiểm. Dự án này Nguyễn Xuân Liêu vốn là dân Toán học ở Liên Xô, còn Nguyễn Ngọc Linh vốn là dân Tổng hợp Vật lý chất rắn ở Romania, không mấy liên quan gì tới nghề luyện thép đã dám lao vào một lĩnh vực mà thế giới đã cày xới hàng ngàn năm nay để tìm ra một lối đi mới…

Phát minh của Nguyễn Ngọc Linh đã được công nhận, anh đã thành công ở quy mô nhỏ: tức đã dùng lò nung gốm Bát Tràng với quy mô vài chục tấn thí nghiệm và sản xuất thành công sắt xốp từ quặng sắt Cao Bằng bằng công nghệ hoàn nguyên phi cốc; tức sử dụng than antraxit Quảng Ninh…

Còn bây giờ họ bỏ tiền túi ra, huy động thêm sự góp sức, góp công của bạn bè, nghĩa và tìm cách sản xuất ra một giây chuyền công nghệ đầu tư mất hàng trăm tỷ đồng để bước đầu sản xuất dự kiến 100.000 tấn sắt xốp năm. Đây quả thật là một dự án táo bạo, đầy phiêu lưu và thành công chắc chắn sẽ mang lại vinh quang lớn cho họ, những người bản lĩnh, tự tin và dám chịu trách nhiệm vì nhà máy là nơi họ dốc vốn liếng của mình ra để làm…

Chúng tôi đến Nhà máy luyện thép của MIREX đặt tại bản Tấn, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An cách thị xã Cao Bằng 8 km vào lúc nhá nhem tối. Cả đoàn quyết định vào thăm nhà máy ngay vì còn giành thời gian sáng mai đi thăm Cốc Pó, Bản Giốc và động Ngườm Ngao…

Nguyễn Ngọc Linh dẫn chúng tôi đến thăm phân xưởng sơ tuyển và nghiền quặng; giây chuyền máy móc đã lắp xong, nhà xưởng còn ngổn ngang. Đây là giây chuyền Nguyễn Ngọc Linh mua lại một máy nghiền đá cũ của Liên Xô dùng để làm ximăng theo giá sắt vụn, anh đã về sửa chữa và biến nó thành công cụ tuyển và nghiền quặng sắt: một kiểu làm ăn, chắt lót của con nhà nghèo.

Nguyễn Ngọc Linh say sưa kể cho nhà văn Lupeanu bằng tiếng Romania về dự án được triển khai theo ý tưởng mà anh và các đồng nghiệp bấy lâu nay ấp ủ, sự hứng khởi và say sưa của anh đã làm lây lan sang cả khách…Mặc dù chúng tôi vừa trải qua quãng đường dài 300 km qua đèo dốc, nhưng thấy sự ngổn ngang hối hả của công trường cũng làm cho mình quên mệt nhọc.

Sau giây chuyền tuyển và nghiền quặng, Nguyễn Ngọc Linh đưa chúng tôi đến thăm khu liên hợp luyện sắp xốp và thép hợp kim. Hiện mới hoàn thành xong giây chuyền công nghệ luyện quặng ra sắt xốp, dự kiến trước mắt khoảng 100.000 tấn năm; sau khi ra sắt xốp, nguyên liệu sẽ được chuyển sang giây chuyền biến sắt xốp thành thép hợp kim…

Một giây chuyền máy móc liên hoàn nối tiếp nhau và được vận hành bằng hệ thống điều khiển vi tính; trái tim của của giây  chuyền này là chiếc lò luyện quặng thành sắt xốp bằng công nghệ hoàn nguyên. Nguyên lý của nó có thể tóm tắt như sau: Sau khi quặng sắt được tinh tuyển, nghiền thành bột, sau đó được tự động nén lại thành từng cục như quả trứng gà, có thêm các phụ gia và được chuyển vào lò hoàn nguyên để luyện.

Để thực hiện quá trình hoàn nguyên, thế giới đã sử dụng rất nhiều giải pháp kỹ thuật: Người Ấn Độ quen dùng lò quay, người Trung Quốc đã dùng lò tunel, người Hàn Quốc, Canada, nam Mỹ dùng lò buồng đứng. Tại Cao Bằng đã áp dụng một công nghệ độc đáo hơn: Hoàn nguyên liên hoàn trong lò đứng nung gián tiếp. Đây là công nghệ rất mới, rất tiết kiệm mặt bằng, tiết kiệm năng lượng và đặc biệt rất thân thiện môi trường.

Ngay từ khâu chuẩn bị nguyên liệu, dây chuyền ở đây đưa ra công nghệ tách tuyển rất sạch, hàm lượng sắt tổng phải đạt 67% mới được đưa vào lò (công nghệ nơi khác chỉ yêu cầu đến 60% là cùng).

Với công nghệ mới này, vừa tiết kiện năng lượng do giảm được dến 20% tạp chất, vừa cho phép tạo ra sắt xốp chất lượng cao để luyện ra nhiều chủng loại thép và thép hợp kim mà đất nước đang rất cần, đó là ngành công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dầu khí.

Sau khi ra khỏi lò hoàn nguyên, sắt xốp được hệ thống băng chuyền làm bằng thép Inox chịu nhiệt, sau đó sắt xốp được đưa đến buồng tách đãi tạp chất và phụ gia, thông qua hệ thống áp suất âm tự động để làm sạch, trước khi thực hiện các nguyên công xử lý tiếp theo để nấu chảy và tinh luyện ra các mác thép cần thiết.

Tại đây theo kế hoạch, sau khi sản xuất ra sắt xốp, một hệ thống 6 lò điện cảm ứng với năng suất 8 tấn/mẻ sẽ được lắp dựng để nấu chảy sắt xốp, sau đó lò hồ quang có khí Argon tinh luyện sẽ tạo ra các chủng loại thép và thép hợp kim cần thiết để cấp liên tục cho 2 dòng đúc liên tục tạo ra các phôi thép. Dự án cũng có thể đúc ra các phôi lớn thép hợp kim cao hoặc các ống thép không hàn, thép các bon thấp là những sản phẩm mà từ lâu nhiều người Việt Nam mong mỏi…

Nguyễn Ngọc Linh giới thiệu với chúng tôi về cái dự án mà anh đã ấp ủ, thai nghén cả cuộc đời bây giờ mới được đưa ra áp dụng. Nhìn những cỗ máy dài, đồ sộ lắp liên kết với nhau khiến cho những dân ngoại đạo về kỹ thuật như tôi vừa cảm thấy ngợp, vừa thấy lo cho Nguyễn Ngọc Linh và những người bỏ hàng trăm tỷ tiền túi ra để dốc vào dự án này. Thành công thì sự vinh quang và hiệu quả kinh tế sẽ thật không thể nào kể xiết.

Theo tính toán của Linh, với công nghệ này sẽ giảm được gần 1/3 giá thành sản phẩm khi thành công; hiện nay các hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ mơ đạt hiệu quả lãi suất 5-10 % trên đồng vốn bỏ ra đã là ghê gớm lắm rồi. Rất nhiều doanh nghiệp hiện nay chủ yếu được tính ra hiệu quả xã hội, chính trị hơn là hiệu quả kinh tế. Còn dự án này, đây là dự án do các cá nhân tự bỏ vốn đầu tư thì trước hết họ phải thu hồi lại vốn của họ trước đã…

Tôi bần thần trước một công trình táo bạo, tâm trạng giống như người đang đứng trên bờ ngắm những thuỷ thủ đang chơi vơi giữa giòng nước xiết, chèo lái con thuyền vượt sang bờ bên kia; một tậm trạng vừa khấp khởi, tin tưởng: rất mừng và rất lo cho Nguyễn Ngọc Linh và những người tham gia dự án này.

Khác với những dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách, nếu hỏng, mất không hiệu quả thì có nhà nước chịu, còn nhưng người tham gia dự án chí ít họ cũng được hưởng lương cao, được thưởng cuối quý, cuối tháng, tiền làm thêm giờ và cả các khoản hoa hồng do các B,C,D lại quả…Còn đối với dự án này thì những người tham gia dự án sẽ phải xác định với nhau từ đầu: Được ăn cả, ngã về không ! Phải tự tin lắm, phải dũng cảm lắm mới dám đổ ra một đống tiền của ra để triển khai dự án này…Nhìn quang cảnh ngổn ngang của nhà máy luyện thép, tôi hiểu được ý nghĩa của cái câu: Có chí làm quan, có gan làm giàu…

Trên trang Website của MIREX, và mũ áo của cán bộ công nhân viêc MIREX, đập vào mắt tôi đó là: MIREX, tên Tập đoàn luyện kim này được kèm theo một giòng kèm theo kiểu tuyên ngôn: Niềm tin thép và thêm hai câu thơ như một thứ cương lĩnh hành động của những người tham gia dự án này: Lòng đất mẹ chắt chiu KHOÁNG SẢN; Tim đàn con rực đỏ lửa LUYỆN KIM…

Nguyễn Xuân Liêu, Chủ tịch Hội đồng quản trị MIREX một dân Toán Nga nhưng lại cũng không kém khí chất lãng mạn; Nguyễn Xuân Liêu là người còn có tài lẻ xuất khẩu thành thơ, tất nhiên là thơ của dân toán. Hai câu thơ như một thứ cương lĩnh hành động trên tôi đoán là của Nguyễn Xuân Liêu.

Dự án đầu tư này thật sự nung nấu Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn Xuân Liêu và tập thể cộng sự của dự án trong đó có một số doanh nghiệp: nếu không có chất lãng mãn, chất hiệp sĩ hảo hớn của những người hùng Lương Sơn Bạc, chất liều được ăn cả ngã về không; được làm vua, thua làm giặc của dân Nghệ… sẽ không dám lao vào quyết liệt đến như vậy…

Sáng hôm sau vào ngày 13/1/2010, đoàn chúng tôi lên thăm động Ngườm Ngao, đây là một trong những động đẹp nhất của Việt Nam: động dài 4 km nhưng hiện mới khai thác du lịch được hơn 1 km. Động Ngườm Ngao đã từng được Bộ Văn hoá-Thông tin trước đây lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới; do còn thiếu một số thủ tục nên phải tạm gác lại. Đây là lần thứ hai tôi vào thăm động Ngườm Ngao. Tôi đã thăm Phong Nha Kẻ Bàng, đã thăm hang Sửng Sốt và Thiên Cung ở Vịnh Hạ Long; nếu đem so sánh trình độ, tay nghề của những ông thợ tạo hoá tạc nên những kỳ quan của thiên nhiên này, tôi xếp các ông thợ tạc nên Ngườm Ngao là bậc 9/9 thì những tay thợ của tạo hoá tạc nên Sửng Sốt, Thiên Cung và Phong Nha-Kẻ Bàng chỉ được xếp 7/9…

Những nhũ đá ở Ngườm Ngao diêm dú hơn, tinh xảo hơn rất nhiều so với những nhù đá của các hang động kia…

Vào trong động, Lupeanu người châu Âu quá cao nên khi chui qua các vách đá, ông đã cụng đầu và bị xây xước trên trán. Lupeanu nói vui: Như vậy Thượng đế đã khắc dấu lên trán tôi, xác nhận tôi đã đến đây và còn có ý yêu cầu tôi phải quay lại nơi đây. Câu nói đùa của ông làm cho mọi người cười và quên cả mệt…

Động Ngườm Ngao chỉ cách Bản Giốc có 5 km, chúng tôi quyết định đi thăm Bản Giốc ngay. Khi đến trạm gác biên phòng, Lupeanu và bạn ông sơ suất không mang theo hộ chiếu thành ra tôi phải chìa thẻ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ra thuyết phục để ông được ra đến chân thác. Một đại uý biên phòng sau khi căn vặn về giấy tờ đã đồng ý cho chúng tôi đi và dặn có lên mảng thì không được qua bờ bên kia…

Lupeanu trầm trồ trước vẻ đẹp kỳ thú của thác Bản Giốc; tôi kể cho Lupeanu về cuộc chiến năm 1979, lính Trung Quốc đã kéo vào tận thị xã Cao Bằng và đã đánh phá còn dã man hơn là B.52. Năm đó lính Trung Quốc đã mang theo bộc phá, mỗi ngôi nhà được ném vào đó 1 lạng bộc phá. Khi lính Trung Quốc rút đi không còn sót một ngôi nhà nào không bị phá; B.52 cũng không phá triệt để bằng.

Lupeanu cho biết, năm 1979, ông đang công tác tại Đại sứ quán Romania tại Bắc Kinh; chính ông được Bộ Ngoại giao Trung Quốc mời đến thông báo trước một ngày về cuộc chiến này;một hành động quân sự nhằm dạy cho Việt Nam một bài học.

Nhà văn Phạm Viết Đào đàm đạo thế sự với nhà văn Lupeanu

Tôi có hỏi Lupeanu về dư luận, thông tin mà ông nắm được với tư cách là một nhà ngoại giao vào thời điểm đó? Lupeanu cho biết: theo quan sát của ông, vào thời điểm 1979, trong nội bộ Trung Quốc chia làm hai phái, một phái chủ trương hiện đại hoá quân đội, mặc dù kinh tế Trung Quốc khó khăn; một phái chủ trương phải hiện đại hoá nền kinh tế, khoan sức dân. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt là một đòn phản ứng thử để quyết định các đường lối chiến lược đầu tư của Trung Quốc. Sau cuộc chiến biên giới Việt-Trung phái chủ trương hiện đại hoá quân đội đã thắng và nắm quyền quyết định các quyết sách của Trung Quốc…

Lupeanu còn kể thêm, ông đến công tác tại Bắc Kinh từ năm 1968,ông công tác tại đây tổng số năm là 13 năm, cộng thêm 7 năm ở Việt Nam, Thái Lan và Sangapo, tổng số 20 năm; nhưng đối với châu Á duyên nợ mà ông có nhiều nhất đó là Việt Nam, mặc dù ông ở đây hơn 4 năm.

Lupeanu kể, vào năm 1969, khi xảy ra chiến tranh biên giới Trung Xô, nhiều hàng quân sự của Romania viện trợ cho Việt Nam chuyển bằng tàu hoả bị ách lại biên giới Trung Xô; Trung Quốc không cho tàu chở hàng của Liên Xô vào lãnh thổ nước mình.Mỗi khi có hàng quân sự của Romania viện trợ chuyển cho Việt Nam, ông lại phải lên biên giới nhận hàng sau đó áp tải chuyển sang tàu Trung Quốc để chuyển về Việt Nam…

Rời Cao Bằng về Hà Nội vào sáng 14/1/2009, tuy mệt nhưng trong tôi lâng lâng những cảm giác khó tả. Cao Bằng cũng giống với bao miền của đất nước mình, vẫn còn nhiều tiềm năng đang bị vùi lấp chưa được biết đến, chưa được khai thác để toả sáng. Hiếm có nơi nào trên thế giới mà thiên nhiên ban tặng cho hai kỳ quan kề sát cạnh nhau; hiếm có cũng đất mà quặng sắt và rất nhiều khoáng sản trong đó có cả vàng nằm lộ thiên như khoai lang nằm trơ ngổn ngang ngoài ruộng, thế mà Cao Bằng vẫn đang nghèo, người dân Cao Bằng vẫn đang khổ…

Nguyễn Ngọc Linh cho biết, nhà máy luyện sắt xốp của anh sau tết sẽ nổi lửa, hy vọng chạy rà máy vài ba chục ngày để sau đó chính thức đi vào sản xuất ổn định.

Tôi lo và chúc cho những mẻ sắt xốp đầu tiên của MIREX sớm ra lò, để khẳng định và xác nhận thành quả của tâm sức của biết bao con người đang muốn mang lại sự phồn vinh cho đất nước bằng mồ hôi và trí óc của mình…

P.V.Đ

Lupeanu chứng kiến vụ kẹt xe hy hữu…

Quặng sắt đang được khai thác

Hàng hoá tại chợ Cao Bằng

Nhà của bà con dân tộc


Đăng bởi: phamvietdaonv | 31.01.2010

TÔ HOÀI: NHÌN TỪ KHOẢNG CÁCH GẦN

VƯƠNG TRÍ NHÀN

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Vương Trí Nhàn là một nhà phê bình văn học quen biết, người thông thạo nhiều chuyện bếp núc, sân sau của ngôi nhà văn chương Việt bởi ông là người trọn đời gắn kết với nghề văn, bạn văn…

Đọc những ghi chép của ông về nhà văn Tô Hoài, những tư liệu mà ông công bố và tự chịu trách nhiệm này chắc chắn cần được trao đổi, kiểm chứng và tranh luận để giúp người đọc phần nào hiểu thêm và hiểu đúng thực chất hơn về đời sống văn học: bao hàm trong nó tác phẩm và tác giả của nó nữa…

Có lúc chúng ta quá đại ngôn coi văn học như một thứ tháp ngà, một loại thánh đường ! Thiết tưởng, nhà văn trước hết họ cũng là một con người, một con người lấm láp bụi trần như ai. Không phải ngẫu nhiên mà Tô Hoài đã từng viết tác phẩm: Cát bụi chân ai, qua tác phẩm cho thấy Tô Hoài trải đời và trải văn như thế nào…

Chúng tôi cho rằng: trong số tư liệu ngổn ngang mà Vương Trí Nhàn công bố có chỗ, có chi tiết có thể còn cần phải trao đổi thêm và gì thì gì thì những ghi chép của Vương Trí Nhàn vẫn là ý kiến của Vương Trí Nhàn và Tô Hoài vẫn là Tô Hoài, một con người đã hiện diện ngót nghét gần thế ký qua trên cói đời và trong cõi văn; và cả độc giã nữa, họ mãi mài là độc giả: thẩm văn và thẩm người theo cái đầu và con tim của họ…

Chúng tôi copy lại bài viết này của Vương Trí Nhàn trên tinh thần đó !

P.V.Đ


Đang tải …
Không thể tải ảnh lên. Ý Nhi kể: ông Tô Hoài thấy cái ảnh của mình ở 45 truyện ngắn cho một câu “ Mình mà cũng đẹp nhỉ. Mình như Tây thế này còn gì.”

Nói chung, theo Ý Nhi: Tô Hoài tỉnh bơ như không, khi nghe người khác chỉnh mình, cười mình, vạch cái xấu của mình.Tôi nghĩ, ông  như có cái khoá tốt, khoá tạch lại một cái, thế là mọi ý kiến về ông ở ngoài. Theo nghĩa rộng, Tô Hoài rất khớp với xã hội Việt nam hôm nay. Đọc lại Tự truyện, thấy tưng tức. Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá.

Dương Thu Hương: Lão Tô Hoài là loại Hà Nội móc cống, xích lô, chứ đâu có chất quý tộc như dân Hà Nội thực thụ.

Kim Lân: Tô Hoài là người rất từng trải, chịu chơi với anh em lắm, đâu cũng đi (mà vẫn giữ được mình). Nguyễn Đình Thi khi làm Tổng Thư ký, không dám ra quán rượu thịt chó với anh em nữa. Tô Hoài thì làm tất. Dễ dàng lắm. Rồi lại vào  kiểm điểm nhau như chơi.

Thợ  Rèn có ý tương tự :  Ông ta sẵn sàng uống rượu, nói bậy với anh em, rồi lại đứng lên thay mặt chi uỷ, phê phán anh em.

Lê  Minh Khuê nhớ lại một lần bầu Quốc hội: Gớm, ông Tô Hoài ông ấy ra tranh cử, ông ấy nói cũng chẳng khác gì xã luận hết, điếc cả tai.

Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô  Hoài: Tô Hoài đang  có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò  tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài.

Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế  muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ  mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.

Hoàng Cầm: Tô Hoài đúng là một con chuột ngày, khôn lắm. Khi mà Tô Hoài muốn lấy lòng mình, lão rất khéo. Để rồi sau đó, lại phản ngay được.

Loại như Tô Hoài — đó là sản phẩm của quá  trình dân chủ hoá trên thế giới này (quá  trình dân chủ hoá tất yếu mà Likhatchev đã có lần nói tới cũng là một xu thế chung của văn học mình, từ thế kỷ XX ). Nhưng dân chủ  mà thiếu phần quý tộc, chỉ là dân  chủ trong tầm thường, nhảm, thấp.

Ngồi cạnh Tế Hanh nghe ông nói với ai đó rồi quay sang gật gù bảo với tôi :

– Anh Tô Hoài còn trẻ mà nhanh nhẹn lắm.

Tôi máy mồm, không kìm được, độp luôn:

— Nhanh nhẹn và tham lam nữa, nên đúng là trẻ thật.

Vũ  Hùng: Tôi đọc Chuyện đường xa, thấy lạ. Tô Hoài viết quá nhiều chuyện mà anh không biết, ví dụ chuyện vệ tinh, chuyện bay trên máy bay, đi ngược ngày thế nào. Cái gì anh ấy không biết, anh ấy phải hỏi người khác chứ ?

Trong một số truyện ngắn, Tô Hoài luôn luôn thù ghét với những người không ở cái căng ( tiếng Pháp camp—chỉ phe nhóm, trận tuyến ) của mình. Luôn luôn thấy căng của mình mới hay ho tốt đẹp, mọi nơi khác, không ra gì!
Vương Trí Nhàn:Tôi muốn mượn mấy câu này để nói về “thần thái” của Tô Hoài. Trong Tô Hoài có chất của dân buôn bán Bắc bộ, nghèo nàn, chắc lép; lại có chất của dân công chức thuộc địa, cốt làm xong việc lấy lương ,còn đâu kệ thằng Tây; có triết lý của người người hư vô, thây kệ đời bởi hiểu mọi cố gắng chỉ vô ích, vậy thì cứ sống cho thoải mái, đến đâu hay đến đấy. Tô Hoài là một hãng hàng thật hàng giả đều làm được, cũng biết người biết của, mà nhìn chung  đối với  sự đời chả coi cái gì ra gì hết.

https://i2.wp.com/giadinh.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2009/02/20090202033221252/tohoai.JPG

*Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác
*Người khác nói về Tô Hoài

1986

Những suy nghĩ  khi nhớ lại Tự truyện

Một xuất phát tốt là thiên hồi ức Cỏ dại. Hình như thời thơ ấu không may mắn đã giúp cho người trai ấy có sự tỉnh táo, biết vị thế của mình trong đời. Cái gốc của Tô Hoài là một linh hồn bơ vơ. Một người thợ thủ công “cỏ dại” chính cống. Sau mới có một con người cán bộ — cán bộ viết văn – trùm ra ngoài.

Cái giọng riêng của Tô Hoài bắt đầu từ đâu ?  Câu văn  như bước chân người kéo lê  đi, lại như tiếng thủ thỉ để chứng tỏ là con người đó vẫn sống, không bao giờ chấp nhận sự cùng đường. Văn Tô Hoài không  gợi cảm giác sang trọng mà thường  ăn ở cái vẻ miên man không cùng; sinh động tự tin, nhưng lại vẫn có chút hậm hụi, hèn hèn tội tội như thế nào đó. Một câu trong Xóm giếng ngày xưa “Tôi vẫn quen với những nhem nhọ “.

Về  kỹ thuật viết

Như  nhiều người đã nói ( trong đó có Hoàng Tiến), Tô Hoài mạnh nhất khi tả phong cảnh, tả những ấn tượng của người viết. Từ đoạn này sang đoạn khác, nhiều khi chuyển rất đột ngột, không đếm xỉa gì đến người đọc. Nhưng vì cái duyên, người ta bị hút ngay vào những  đoạn rẽ ngang rẽ dọc  đó.

Tôi nghĩ rằng Tô Hoài không biết rõ nhân vật và ông không để ý đến nhân vật bằng phong cảnh. Nhân vật của ông như người qua đường không hiện lên như những tính cách mãnh liệt muốn thể hiện ý mình, mà chỉ để làm cớ cho tác giả kể chuyện.

Các loại nhân vật

Chỉ  có một lần, Tô Hoài tả nhân vật có  chí khí và có tầm nhìn xa– Dế  mèn.

Chỉ  có một lần, Tô Hoài tả loại người quật khởi – đó là A Phủ.

Còn ngoài ra các nhân vật của ông đều là là sát mặt đất; pha tạp, không thuần nhất; mặt mày nhòe nhoẹt; tồn tại theo kiểu khật khà khật khưỡng. Người ta hơi khó nghĩ khi xếp họ vào những loại người cụ thể. Nhiều người là loại tầm thường.

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.


Sự  tồn tại giữa đời

Mỗi lần nghĩ đến Tô Hoài, tôi vẫn lạ vì sao có một người khinh người rẻ của như vậy,  lạnh lùng như vậy,  mà vẫn sống giữa người đời rất nhẹ nhàng, và đi đâu cũng lọt. Hay là sự chân thành của Tô Hoài và người đời cũng rất thật mà tôi chưa nhận ra (Phạm Thế Ngũ trong Việt nam văn học sử giản ước tân biên in ở Sài Gòn trước 1975 coi Tô Hoài thuộc loại ngòi bút nhân hậu bậc nhất hồi tiền chiến).

Một số  tác phẩm

Tự  truyện cho thấy cái đời thường duyên dáng của một người làm nghề.

Nét nổi bật của Một quãng đường đoạn tả nhà văn lang thang đi ăn xin. Chất “bạc nhạc”. Những đoạn không đâu vào đâu như thế, cung cấp tốt tài liệu cho những người viết tiểu sử ông.  Cho người ta hiểu thế nào là một con người, nhất là loại ta hay gọi là “nhân dân lao động”.

+ hóm hỉnh, gần nhân tình, nhạy bén.

+ngấm ngầm ham hố, cũng đi lừa mọi người sau khi đã bị người lừa.

+ không thể lớn được, nhưng không chết, lầm lụi dai dẳng, để rồi lại mãi mãi sinh sôi.

Bề  ngoài có tính chất dân gian, song thực ra đó cũng là một quan niệm hiện đại về thế giới này, ở đó con người vừa có mặt, vừa vắng bóng; mọi hoạt động vừa là làm, vừa là chơi; tác phẩm vừa là tinh tuý, vừa là độn; con người vừa là cán bộ, vừa là dân thường. Dễ từ bỏ nhau, dửng dưng với nhau, như đã dễ gần gũi với nhau.

Những con người trong đó biểu hiện rõ cuộc Cách mạng này – Nảy sinh từ xã hội cũ, họ lại là động lưc chính phủ nhận nó và lang thang đi tìm một cái gì khác dù không biết rõ cái đích mình đến.

Trong bài viết về Nguyễn Bính, Tô Hoài  bảo trong đời sống  văn học trước 1945, người lẫn với ma, đó là cái thời nửa người nửa ma.

Theo nghĩa này có thể bảo  chính ông như  một con ma, trong ông có một con người nghĩ ngược với những điều đang viết.  Lúc nào ông cũng có nhu cầu tố giác mọi người, lật tẩy mọi người – kể cả lật tẩy chính mình. Lúc nào ông cũng đắm đuối trong một vài ý nghĩ tinh quái nào đó.

Người sùng bái sự không thiêng liêng của cuộc đời —Tô Hoài đáng được định nghĩa như vậy.Trong Tô Hoài luôn luôn có cái  xu thế muốn xúi giục chúng ta viết văn thực sự, làm người thực sự, tuy ông  vẫn nghĩ:

– Như thế thì mệt lắm, mà cũng chả đi đến đâu.

Trong con mắt những đồng nghiệp

Ý Nhi kể: ông Tô Hoài thấy cái ảnh của mình ở 45 truyện ngắn cho một câu “ Mình mà cũng đẹp nhỉ. Mình như Tây thế này còn gì.”

Kim Lân: Tô Hoài là người rất từng trải, chịu chơi với anh em lắm, đâu cũng đi (mà vẫn giữ được mình). Nguyễn Đình Thi khi làm Tổng Thư ký, không dám ra quán rượu thịt chó với anh em nữa. Tô Hoài thì làm tất. Dễ dàng lắm. Rồi lại vào  kiểm điểm nhau như chơi.

Thợ  Rèn có ý tương tự :  Ông ta sẵn sàng uống rượu, nói bậy với anh em, rồi lại đứng lên thay mặt chi uỷ, phê phán anh em.

Nhà văn Lê Minh Khuê

Đang tải …

Không thể tải ảnh lên.

Lê  Minh Khuê nhớ lại một lần bầu Quốc hội: Gớm, ông Tô Hoài ông ấy ra tranh cử, ông ấy nói cũng chẳng khác gì xã luận hết, điếc cả tai.

Vũ  Hùng: Tôi đọc Chuyện đường xa, thấy lạ. Tô Hoài viết quá nhiều chuyện mà anh không biết, ví dụ chuyện vệ tinh, chuyện bay trên máy bay, đi ngược ngày thế nào. Cái gì anh ấy không biết, anh ấy phải hỏi người khác chứ ?

Trong một số truyện ngắn, Tô Hoài luôn luôn thù ghét với những người không ở cái căng ( tiếng Pháp camp—chỉ phe nhóm, trận tuyến ) của mình. Luôn luôn thấy căng của mình mới hay ho tốt đẹp, mọi nơi khác, không ra gì!

Tôi ( Vũ Hùng) thấy anh – Tô Hoài — không bằng anh Võ  Quảng. Anh Võ Quảng hôm nọ bảo tôi: Nhà văn không nên để mình quá bị ràng buộc vào một quan niệm nào đó. Chỉ có một quan niệm mà, theo Võ Quảng, chúng ta phải trung thành – đó là quan niệm nhân bản.

Tô Hoài cũng có cái nhân bản của mình, chỉ  có điều cái nhân bản đó, không có được cái tầm như ở những ngòi bút kiệt xuất.

Mối quan hệ  với đồng nghiệp


Sau 1975, vào Sài Gòn, Tô Hoài rủ Nguyễn Tuân thăm Vũ Bằng. Nguyễn Tuân không đi, coi như không trở  lại chuyện cũ. Tô Hoài đã đi thăm thật. Cũng như Tô Hoài đã lặn lội về thăm Nguyễn Bính, sau khi Nguyễn Bính mất. Hình như việc gì người khác không dám làm, thì Tô Hoài dám làm, luôn luôn Tô Hoài muốn chứng tỏ rằng mình không sợ gì cả. Trong bụng dám cho rằng mình  đi với ai cũng được.

Bùi Hoà nhớ một vài lần đến gặp nhà chính khách Nguyễn Văn Bổng, lại gặp Tô Hoài ở đấy. Hai ông trao đổi cho nhau mấy quyển tiếng Pháp. Sao Tô Hoài cứ lẩn lẩn, thằng Hân cũng có cái tính hay lẩn kiểu ấy, Bùi Hoà kết luận.

Không chừng cái cách sống ấy có ở nhiều người. Chẳng hạn như Nguyễn Kiên. Né tránh mọi người, giữ miếng, không thích bàn kỹ về điều gì cả, vì ngại bộc lộ đến cùng con người mình trước người khác.

Con người làm bằng chất dẻo


Chuyện  ở Hội Văn nghệ Hà Nội, báo Người Hà Nội. Bằng Việt kể: Ông Triệu Bôn có vẻ vùng vằng, nghĩ rằng mình đi vắng 2 tuần, ở nhà báo sẽ chẳng ra sao. Ai ngờ, cũng xong. Tô Hoài mủm mỉm cười, làm tuốt.

Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô  Hoài. Tô Hoài đang  có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò  tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài.

Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế  muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ  mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.

Tô  Hoài hỏi Xuân Quỳnh:

– Có phải cô bảo tôi là vừa đá bóng vừa thổi còi phải không?

– Vâng, em bảo anh thế đấy !(có liên quan đến một giải thưởng )

Tô  Hoài không nói gì, sau vẫn gửi sách tặng Xuân Quỳnh ( cuốn Nhà Chử)

Nói chung, theo Ý Nhi, Tô Hoài tỉnh bơ như không, khi nghe người khác chỉnh mình, cười mình, vạch cái xấu của mình.Tôi nghĩ, ông  như có cái khoá tốt, khoá tạch lại một cái, thế là mọi ý kiến về ông ở ngoài.

Theo nghĩa rộng, Tô Hoài rất khớp với xã hội Việt nam hôm nay. Đọc lại Tự truyện, thấy tưng tức. Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá. Dương Thu Hương: Lão Tô Hoài là loại Hà Nội móc cống, xích lô, chứ đâu có chất quý tộc như dân Hà Nội thực thụ.

Một kiểu  làm ăn tùy tiện

Thỉnh thoảng liếc qua báo Người Hà Nội, tự nhiên thấy nhếch nhác quá. Mà do Tô Hoài làm đấy.Từ người phụ trách báo đã khinh thường tờ báo của mình biết bao.

Một lúc nào đó tôi buột miệng nói: nếu tất cả  chúng ta đều là cặn  bã, thì loại như  Tô Hoài vừa là cặn bã của xã hội cũ, vừa là cặn bã của xã hội mới.

Đọc lại bài viết Núi Cứu quốc (Nguyễn Đình Thi), thấy có câu  “Tô Hoài thú Việt Bắc nhưng không yêu Việt Bắc.”

Có  lẽ với cả cuộc đời này cũng vậy, Tô  Hoài đâu có yêu. Một mặt, đó là người chả có nguyên tắc sống gì (dân ngoại ô không có nghề chuyên, chỉ đi làm thuê, việc gì cũng có thể làm; người ta chỉ thuê một lần, sau này cũng chả nhớ mặt nhau nữa). Mặt khác, đó lại là một cán bộ biết vươn lên trong xã hội, cũng thích công danh lắm.

Phan Thị Thanh Nhàn bảo: Bây giờ Tô Hoài vẫn bảo là không phải làm báo cho bạn đọc, mà là làm báo cho tuyên huấn họ đọc.

Nhàn: Tôi ngờ rằng lúc vào nghề, ông Tô Hoài đã bị những người trong nghề coi thường lắm nên bây giờ ông ta mới lang thang đủ nơi mà chẳng dính vào nơi nào hết. Kim Lân: Không, căn bản là vì Tô Hoài rất chịu chơi, lúc nào cũng sẵn sàng đi chơi với mọi người, tuy chẳng để làm gì, chẳng để yêu bạn bè hơn, nhưng cứ thích đi.

Nói về  người khác

Thường chỉ cần một hai câu, Tô Hoài cũng đủ giết người ta rồi.

— Con người ta thật là buồn cười. Như cô Tú bây giờ, lúc nào cũng nói “in được một bài thơ, đối với tôi bây giờ, còn sướng hơn in một tập truyện ngắn “.

— Không ngờ đời sống làm cho ông Thông ông ấy  đổ đốn như vậy chứ hồi ở Việt Bắc, ai cũng yêu nhớ. Trẻ này, chịu học này, đọc được cả chữ Hán lẫn chữ Pháp, nên cần gì là nghiên cứu được cái ấy, mà lại đặc biệt tín nhiệm về chính trị nữa. Mình vẫn ngờ cái loại nhà văn về Hà Nội bằng con đường Thái Nguyên. Ít nhiều vẫn có chất tỉnh lẻ của nó !

Tô  Hoài kể về một kiểu người nhạt nhẽo.

– Chả là tôi cũng là loại tác giả được phân công có người chuyên môn theo dõi. Người ấy chính là cô X. Một hôm cô ấy bảo tôi “ Em nghe người ta bảo anh với chị bằng mặt nhưng chả bằng lòng, mà anh lại lòng thòng với chị N. phải không ?” “Mồm thiên hạ vẫn thế. Hay là để tôi gọi nhà tôi lên cho cô tin nhé !” “ Nghĩa là không có gì ?” “Toàn chuyện vớ vẩn đồn thổi!”.

Thế  là cô ta sung sướng như chính cô ta được minh oan. “Có thế chứ, có thế chứ  !”

Về  sau, Nguyên Kiên bình luận: Ông Tô Hoài vẫn có cái lối đóng kịch kiểu ấy. Cứ làm như mình sòng phẳng lắm ấy !

Nói về chữ nghĩa:

– Tôi thấy luôn luôn người ta có thể viết cho gọn hơn. Từ 5 dòng, tôi có thể co lại, còn  độ 3 dòng, hay 2 dòng. Trong ba chữ một cái đèn, thể nào cũng có thể xoá bớt, chỉ còn hoặc là một đèn, hoặc là cái đèn.

Tôi (VTN) nghĩ: đi mà xoá văn Nguyễn Tuân!

Nhưng một phát hiện khác của Tô Hoài thì có thể  chấp nhận được:

–Cái bài Chữ và câu văn của tôi còn có đoạn nói đến biền ngẫu ở Nguyễn Khải. Thế mới biết biền ngẫu nó vào mình tự nhiên thật ( đoạn chê này, đến lúc in, thì trường Nguyễn Du, nơi in tập sách có bài Chữ và nghĩa nói trên họ xoá hết!)

Tầm vóc văn chương

https://i2.wp.com/tuanvietnam.net/Library/Images/62/2008/04/16_4/NDT_2.jpg

Tô Hoài và Nguyễn Đình Thi.

Đọc những nhà văn lớn ở nước ngoài, thấy rõ người  ta định lớn – người ta muốn cạnh tranh cả với Chúa! Các nhà văn VN ở trình độ khác. Từ Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân tới Xuân Diệu Tô Hoài, luôn luôn ở người ta chỉ có cái ao ước là tìm ra một chỗ đứng trong đời sống, len lỏi để có thể bám trụ được, và từ đó  nhìn ra với nụ cười hể hả: ta không chết.

Và nỗi lo lớn nhất  là cạnh tranh với các đồng nghiệp ghi điểm trước đồng nghiệp.

Đọc lại truyện ngắn viết trước 1945, thấy nhà văn này có lý để tự kiêu, truyện rất hay, tự nhiên. Có một chút gì đó thanh thoát hơn các truyện của Nam Cao nữa. Nhưng thấy Tô Hoài ảnh hưởng đủ thứ kể cả Nguyễn Công Hoan (truyện Ma đè).

Ý nghĩa xã hội

Đọc Tô Hoài, thêm hiểu tại sao lại có Cách mạng tháng Tám. Tình cảnh dân ta trước 1945 khá rõ.

– Một xã hội đẹp nhưng quái gở. Đàn bà  quyết định tất cả (truyện Một người đi xa). Thế nào người ta cũng có lý, cũng nói được.

– Một xã hội quá tù túng. Những yếu tố  lạ, nhưng yếu tố ánh sáng, có le lói đến ( những đoạn tả người ở quê ra tỉnh, người ở tỉnh về) những chưa giải quyết được bế tắc. Tỉnh thành phố xá nào có ra gì, cũng buồn bã, yếu đuối, không đủ sức phá vỡ sự tẻ nhạt của nông thôn công xã.

Những trang Tô Hoài tả việc lên phố của mình (trong Cỏ dại), câu chuyện lên Hàng Mã ở, sao vẫn chỉ như là dấu hiệu cho thấy một sự bất lực. Ngưng đọng, trì trệ là đặc điểm chính của những  xóm  ngoại ô này. Có cố thì cũng đến thế thôi.

Có  cả những bệnh không chữa mà khỏi, lẫn những bệnh không bao giờ chữa khỏi. Có cả những ao ước mơ hồ, lẫn lời hứa phiệu ngay từ đầu đã  không ai tin.

Tô  Hoài hay có lối tả con người dù đã qua nhiều bước phiêu lưu, vẫn trơ lại trước mọi tác  động, con người mặc dù có vẻ rất nhạy cảm nhưng cuối cùng đâu vẫn  đóng đấy, nhân vật đi qua cuộc đời mà rút cục mình  vẫn là mình.

Niềm tự tin

Lại Nguyên Ân kể về một ông bán sách cũ: bán ra thì rất đắt, coi như sách của mình đi khắp cả nước tìm không ra; mà mua vào thì nhìn dửng dưng, nhạt nhẽo, y như không cần, nhìn sách bằng nửa con mắt.

Tôi muốn mượn mấy câu này để nói về “thần thái” của Tô Hoài. Trong Tô Hoài có chất của dân buôn bán Bắc bộ, nghèo nàn, chắc lép; lại có chất của dân công chức thuộc địa, cốt làm xong việc lấy lương ,còn đâu kệ thằng Tây; có triết lý của người người hư vô, thây kệ đời bởi hiểu mọi cố gắng chỉ vô ích, vậy thì cứ sống cho thoải mái, đến đâu hay đến đấy. Tô Hoài là một hãng hàng thật hàng giả đều làm được, cũng biết người biết của, mà nhìn chung  đối với  sự đời chả coi cái gì ra gì hết.

Những năm chín mươi

1/1990

Một chuyện đáng nhớ ở Đại hội nhà văn III: Tô Hoài mai đi Le Caire Ai Cập họp Hội nghị Á Phi rồi, hôm nay vẫn giữ tên trong danh sách bầu chủ tịch đoàn. Phan Hồng Giang tố ra giữa hội trường để còn dành chỗ cho người khác. Ai cũng nghĩ ê cả mặt.

Nhưng Tô Hoài coi như không có chuyện gì xảy ra. Sau Đại Hội vẫn đến Hội Nhà văn. Nghe đâu, số Tác phẩm văn học này, lại có bài điểm sách Tô Hoài.

Sức sống của nhà văn này cho tôi hiểu thế nào là sự phong phú của con người, nhất là loại người từng trải. Có thể nói ở  mỗi con người loại này có những con người khác nhau. Trước công việc, một con người khác – đôi khi là Chúa – chi phối anh ta. Trong khi đó, thì ngoài đời, anh ta vẫn tiếp tục phiêu lưu, lang thang, hưởng thụ, hư hỏng.

Phan Thị Thanh Nhàn kể :  Ông Tô Hoài làm ở cơ quan báo, lại Hội nữa, ăn hai lương như Bằng Việt, mà chả bao giờ đến cơ quan cả.

Theo Nguyễn Kiên, cái vụ Đại hội thì dơ thật. Nguyễn Kiên giải thích thêm, sở dĩ lúc bấy giờ ông Tô Hoài còn nấn ná chờ có được chút gì không, theo mình biết là vì ông nghe rằng hình như trên sẽ can thiệp vào Đại hội, nhân sự sẽ do trên xếp, và như vậy, thể nào ông cũng có phần. Ấy, kinh nghiệm xưa nay vẫn là như thế, chỉ có điều lần này kinh nghiệm đó không đúng nữa.

Nhân chuyện gì đó (à, chuyện về tạp chí của Hội),  tôi bảo:

– Hình  như ông Tô Hoài sẵn sàng làm.

Nguyễn Kiên:

— Ông ấy thì cái gì chẳng nhận. Rồi cũng chẳng làm mà cũng chẳng bỏ, nghĩa là làm cứ như đùa.

Ngày thứ ba 20/2, Hội đồng văn xuôi họp. Nghe anh em kể thì Tô Hoài giở giọng ngang phè  (Ma Văn Kháng gọi là “giả lão, bán lão”,  cậy mình là già, lợi dụng tuổi già của mình) :

– Tôi bây giờ chả sợ gì nữa. Ông Tố  Hữu còn sợ, tôi chẳng sợ.

– Đọc báo là tôi cứ tìm cái dở nhất tôi đọc. Đọc thơ. Mà lại thơ Huy Cận, thơ Nguyễn Xuân Sanh hẳn hoi. Toàn thơ in theo chiếu mà, nên muốn hiểu ai lên ai xuống ai đứng yên mình phải đọc .

– Thời buổi bây giờ hỗn loạn, bỏ cái minh hoạ  hôm qua, thì lại minh hoạ cho cái đổi mới hôm nay.

– Thì những giải văn chương trên chính trường bây giờ, như giải Nobel, nó cũng đều là chính trị  cả.

Có  một chút gì trơ tráo trong tất cả những lời bộc bạch đó. Anh em người ta cãi lại, anh mà không minh hoạ à, anh mà không có chiếu à, chiếu lớn là đằng khác. Anh bảo giải Nobel chính trị, thế giải Bông Sen của anh (Phạm Thị  Hoài : Bông Sen hay Hoa Sen tôi cũng không biết nữa), mà không chính trị à?

Nghe Đỗ Trung Lai  nói lại, Bằng Việt  bảo phải cho Tô Hoài về hưu thôi, Tô Hoài cũng 70 rồi ( Bằng Việt vẫn là nhân vật số 1 của Văn nghệ Hà Nội ).

Chắc có lẽ thế, nên Tô Hoài chạy vạy đủ các nơi.

Hoàng Cầm: Tô Hoài đúng là một con chuột ngày, khôn lắm. Khi mà Tô Hoài muốn lấy lòng mình, lão rất khéo. Để rồi sau đó, lại phản ngay được.

19/6/90

Loại như Tô Hoài — đó là sản phẩm của quá  trình dân chủ hoá trên thế giới này (quá  trình dân chủ hoá tất yếu mà Likhatchev đã có lần nói tới cũng là một xu thế chung của văn học mình, từ thế kỷ XX ). Nhưng dân chủ  mà thiếu phần quý tộc, chỉ là dân  chủ trong tầm thường, nhảm, thấp.

11/7/90

Ngồi cạnh Tế Hanh nghe ông nói với ai đó rồi quay sang gật gù bảo với tôi :

– Anh Tô Hoài còn trẻ mà nhanh nhẹn lắm.

Tôi máy mồm, không kìm được, độp luôn:

— Nhanh nhẹn và tham lam nữa, nên đúng là trẻ thật.

Nguyễn Đình Nghi:

– Tô Hoài thường bảo rằng Tự lực văn đoàn không trả tiền mình. Nói thế chỉ là  thấy việc nhỏ mà không thấy việc lớn. Lệ  hồi ấy, ai mới  gửi mà được đăng lần đầu đều không trả tiền. Còn về truyện  Con gà ri ( khi đăng trên Chủ nhật còn giữ cái tên là Mê gái – V.T.N.). Bố tôi là người đọc văn xuôi. Có đống bản thảo, tôi biết đã định loại đi, nhưng thấy tiếc moi xem lại lần nữa. Phát hiện ra truyện của Tô Hoài, thế là ông thuê xe lên ngay nhà Thạch Lam và hai ông cho đăng ngay ở số gần nhất. Sao lại bảo là ông vô trách nhiệm được.

(Cũng Nguyễn Đình Nghi:  Đừng tưởng như Nguyễn Công Hoan mà là chân thực đâu. Trong Đời viết văn của tôi cũng khối chỗ nói dối !)

Người ta kể rằng, ở Hội nghị của Hội đồng văn học thiếu nhi, Văn Linh chửi ầm lên: Tôi chán các thứ hội đồng này lắm rồi. Lúc nào cũng từng ấy mặt chẳng nhẽ không ai thay được à ?

Quang Huy cũng phụ hoạ cái giọng đó. Nhưng Tô Hoài kệ.

Trong đầu óc mọi người  ở Hội, Tô Hoài vẫn là một nhân vật không thể thiếu. Khi người ta có ý định lập ra tạp chí Văn học nước ngoài, thì ông Tổng biên tập mà người ta nghĩ tới lại là Tô Hoài.

Một buổi tôi ngồi  nói chuyện với Hách, Khuê.

Hách: Mình còn nhớ lần đầu thằng Trần Ninh Hồ nó gặp ông Tô Hoài về, nó bảo ông ấy ghê lắm, hạch đủ thứ.

Khuê: Tôi viết cái truyện gì này này, nói về một nghệ sĩ. Ông ấy bảo đừng có viết về nghệ sĩ. Hãy viết công nông ấy.

Nhân bàn về thân phận, tôi nói đùa:

– Từ công việc của Tô Hoài đôi khi thấy toát lên cái ý văn nghệ phải được quan niệm như một công việc nhăng nhít, và người làm văn nghệ quá nhiều tay nhảm nhí. Mà người tài nhất trong cái đám nhảm nhí này trước cách mạng có Nguyễn Bính và có Tô Hoài. Nhưng mặt hàng Tô Hoài đa dạng hơn.

Trong  bài  Chữ và tiếng nói sách Sổ tay viết văn trang 119, bản in 1960, Tô Hoài nói về nghề : Người viết văn như cái cửa hàng bách hoá, càng nhiều mặt hàng càng dễ chạy.

14/4/1991

Vũ  Quần Phương kể: Ông ấy khôn lắm, không có cái gì bỏ qua, nhưng không dính vào việc gì cụ  thể cả. “Lúc nào cần vắng  thì tôi vào viện. Ở tuổi tôi thiếu gì bệnh để nằm viện “. Chính ông ấy nhận như thế.

( Bùi Bình Thi có lần nói: Tô Hoài như một  con rán, đặc biệt nhạy cảm với mọi tình thế.)

Cơ  quan có cô N. làm văn phòng. Ông Tô Hoài dùng nó, nể nó. Đùng một cái, nó xin vào Hội. Anh em thấy chuế, ông Tô Hoài cũng thấy chuế. Cho nó vào thì ra làm sao nữa.

Có  người như Bằng Việt nói thẳng, thôi N. ơi chờ  chút đã, để bọn này viết cho N. mấy cái truyện hoặc mấy bài thơ rồi ký tên N. đã, N. hãy vào. Nhưng N. nó không chịu.

Đến ngày Ban chấp hành bỏ phiếu thì ông Tô Hoài vắng một cách cố ý.

Ấy, ông cứ sợ một đứa khùng dại như vậy để rồi có lúc ông coi thường cả một đại hội.

Người khác tham lộ mặt. Ông ấy thì lẩn khuất kín đáo. Khi có hai bên tranh nhau thì ông ấy nhường ngay. Chỉ khi nào, ở chỗ nào không ai để ý, ông ấy mới  bổ nhào, và người ta phải chịu.

Cái mà tuổi tác mới dạy cho ông ấy chăng ? Không, từ  trẻ ông đã thế.

Là cái mà văn hoá Việt Nam nó thấm vào  ông nữa.

19/7/1991

Con người trong Tô Hoài

Đọc lại Dế mèn. Đúng là có một tính cách, sự khao khát, ý tưởng hành động. Nhu cầu muốn làm việc lương thiện. Sự sòng phẳng, chấp nhận những lầm lỡ của con người mình.

Tính cách kiểu Dế mèn là tính cách thông thường của con người lập nghiệp , tuy không có cái sắc cạnh, cái quá đáng, cái gần như không thể bộc lộ được. Lại cũng đã bắt đầu thích chức vụ xã hội.

Nhưng ngoài Dế mèn, thì các nhân vật khác đều lặt vặt không có con người nào như Dế mèn. Trong truyện Tô Hoài trước cách mạng, loại con người hiện ra vớ va vớ vẩn đông hơn nhiều.

Trong một phiếm luận, tôi đã từng chứng minh những variant khác nhau mở ra trước nhân vật Tô Hoài trong việc mưu cầu hạnh phúc. Có vẻ như Tô Hoài muốn đưa ra cả loạt, một cụm  mà lại không có một  phương án nào là rõ rệt.

Tô  Hoài không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào. Các loại nhân vật chỉ để vẽ phác, và đều nham nhở. Nhân vật không có những khao khát lớn. Nhân vật không có cái đắm đuối như các nhân vật của Nguyên Hồng. Bước đi loạng choạng,  ý định thú tội – nhớ có một nhân vật Nguyên Hồng được tả như vậy. Gắn liền với ý thức về tội lỗi, khao khát chuộc tội. Sự thông cảm kỳ diệu với thiên nhiên, thấy ở đó một biểu hiện của Chúa, những cái ấy có ở những trang đặc sắc nhất của Nguyên Hồng.

Cuộc  đời trong Tô Hoài thì lẩn mẩn rất nhiều chi tiết mà người bình thường quen thuộc nhưng lại hay bỏ qua. Đọc Tô Hoài người ta có thích thú nhưng không sửng sốt. Nhân vật trong Tô Hoài thiếu hẳn bản sắc riêng, cái thật nổi trội kỳ lạ. Có vẻ như họ sát ngay mặt đất, họ dễ lẫn đi giữa những người khác.

Nguyễn Kiên:

– Tôi và Tô Hoài cũng là một thứ bạn vong niên. Hồi tôi còn ở chỗ 65 Nguyễn Du, ông Tô Hoài cũng hay đến chơi, thủ thỉ đủ các chuyện vẩn vơ. Gần đây tôi chỉ nghĩ sao mà bố mày liều thế, viết bừa viết phứa, có mỗi cái Hà Nội cũ mà viết mãi thôi.

Vào những ngày này (10/1991) Tô Hoài đang khoe là có một cuốn hồi ký mang tên Cát bụi chân ai kể lại chuyện Hội Nhà văn 1957-1987

Báo  Tiền Phong Chủ Nhật đã trích đăng hai kỳ về Nguyễn Bính, bài viết cho thấy hình ảnh một Nguyễn Bính rạc rài rất đáng thương mà cũng đáng giận.

Lạ  thật, một mặt thì Tô Hoài rất tiêu biểu cho lối làm việc của nghệ sĩ Việt Nam, loanh quanh tả cái cây cái lá với những chuyện vặt vãnh. Mặt khác, ông lại là người có lối làm việc của nhà văn hiện đại. Ông sớm viết hồi ký, viết ngay từ hồi 22-23 tuổi – tập Cỏ dại. Hình như ông hoàn toàn hiểu rằng nhà văn còn biết viết về những gì khác ngoài chính mình nữa !

Bên cạnh cái phần đôn hậu, sự ma mãnh là  một thứ bản chất thứ hai Tô Hoài, nó  giúp cho ông tồn tại nhưng cũng kéo thấp ông xuống.

– ma mãnh nghĩa là sẵn sàng làm bậy, nói dối, viết ẩu, len lỏi để sống.

– ma mãnh nghĩa là cứ tự nhiên mà thành, mưu mô lặt vặt xoay xở tầm thường cũng là  tự nhiên, và không đủ sức vươn lên thành trí  thức, vươn lên trong kiến thức, sách vở, phiêu lưu vào những khu vực thiêng liêng của đời sống tinh thần.

1/1/1992

Về  quyển hồi ký Cát bụi chân ai

Từ  hồi gặp nhau ở Moskva, Tô Hoài đã nói với tôi về ông Tuân, phải viết về ông ấy, viết chứ, nhưng không phải là kính viết mà viết một cách như là vẫn sống với ông ấy vậy. Lại Nguyên Ân thì lại còn được Tô Hoài rót vào tai đại ý là sẽ viết về một thế hệ các ông ấy gặp chủ nghĩa Mác như gặp một cái quán, tiện chân là vào, thế thôi.

Đọc trích đoạn Cát bụi chân ai trên báo Tiền Phong, cứ tưởng Tô Hoài viết theo kiểu Ehrenbourg, viết cho mỗi người một chương. Nhưng không phải. Cả quyển viết về Nguyễn Tuân. Mở đầu bằng câu tôi kém Nguyễn Tuân 10 tuổi. Và đến cuối là đoạn có người đến báo Nguyễn Tuân chết. Theo cách trình bày của Tô Hoài, thấy ông không định viết Nguyễn Tuân cho sang mà kéo Nguyễn Tuân gần với mình, để rồi, cũng vẫn không quên cái điều căn bản, thực ra Nguyễn Tuân là Nguyễn Tuân mà mình vẫn là mình. Cái hiện tượng Nguyễn Tuân với Tô Hoài không gì khác, là chính văn học, là chính đời sống, chúng ta không lựa chọn cuộc đời này, ta sống với nó, vừa hăng hái thiết tha, vừa uể oải chán chường. Chưa bao giờ, chưa ở chỗ nào, tôi thấy Nguyễn Tuân như ở đây, nghe giọng toàn là thứ thiệt cả. Mặc dù luôn luôn nghi ngờ Tô Hoài, cho Tô Hoài là khôn, ranh, giấu mặt, song Nguyễn Tuân vẫn không bỏ được Tô Hoài, vẫn thấy đấy là một phần của cuộc đời mình. Theo cách nhìn của Tô Hoài, ở con người khinh bạc ấy, vẫn có biết bao tha thiết. Nguyễn Tuân hiện ra không như người ta nghĩ – hoặc có ác, thì cũng là ác một cách rất hiền lành, giời sinh ra bởi lẽ cá nhân thì phải làm cách vậy, chứ đâu có vô lương tâm. Khỉ thật, cái việc mà Tô Hoài  từ Tây Bắc về Hà Nội, Nguyễn Tuân phải đi tiễn mãi, rồi thư từ cho Tô Hoài nữa, đọc đầy lý thú. Hoặc cảnh họ lang thang ở phố xá Hà Nội. Chiều chiều gặp nhau ở một cái quán, trong chốc lát mà thấy cả đời. Suốt bao năm tháng, ý tứ mà sống với nhau, anh nào lo niêu cơm anh ấy, nhưng cũng nên sống cho người khác một tí nữa. Nhớ chi tiết Nguyễn Tuân cho Tô Hoài uống rượu, rót xong là cất chai đi. Lại nhớ cái cảnh Tô Hoài đến Nguyễn Tuân đi vắng, lúc chủ về, thấy khách ngồi đấy, hỏi một hai câu, tỏ ý khó chịu rồi lăn ra ngủ. Cái tài của Tô Hoài là tả, tả kỹ, khiến cho mình tin một con người như vậy, và nhất là tin rằng cuộc sống chỉ là một cái gì bình bình, xoàng xoàng, không nên cao giọng mà nói, mà quát (gần đây, gặp tôi, nhân nói chuyện về Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử cũng không quên nói rằng ông Mạnh nhiều khi cao giọng đấy, chả vừa đâu). Đoạn cuối, tả Nguyễn Tuân già yếu, bất lực, tiếc đời, lụn bại, đúng với tình thế một người hết thời, nhưng cũng cho thấy một cuộc đời qua đi, chớp mắt một cái, thế là đã xong hết cả. Nhưng mấy hôm nay, người trong giới bảo nhau (tôi nghe Nguyên Ngọc bảo) là sách không in được đâu, trên chưa định thanh toán cái hoá đơn này đâu.

Tô Hoài: Nhưng ở tuổi tôi, tôi phải viết thế  chứ còn gì nữa !

( Nguồn: Blog Vương Trí Nhàn )

https://i0.wp.com/tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/7/2009/11/ngay23/hoai2.jpg

Vợ chồng nhà văn Tô Hoài

                                   Hai Xe Ôm.

 

Bị cáo Sầm Đức Xương bị cấp sơ thẩm kết tội 10 năm 6 tháng tù vì đã mua dâm gần chục nữ sinh chưa thành niên. Ành: Hoàng Anh.

Dân trí vừa đưa tin:” Ngay sau khi thông tin có một “danh sách” những người từng “mua dâm” hai nữ bị cáo trong vụ “Hiệu trưởng mua dâm học sinh”, các cơ quan chức năng như Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy Hà Giang, Công an tỉnh, Bưu điện cho biết sẽ vào cuộc để làm rõ…”

Cũng theo Dân trí thì sau Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy Hà Giang, còn có những người chịu trách nhiệm của Ủy ban tỉnh, ngành Bưu điện, Ngân hàng, Công an đã cho biết thái độ cũng như sự quan tâm tới vụ án này và sẽ cho kiểm tra làm rõ để xử lý những người có tên trong bản “ danh sách đen”, nếu tìm ra được bằng chứng vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý…

Như vậy, vụ án đã làm rung động nhiều cơ quan đầu não của tỉnh Hà Giang, do vậy theo Hai Xe Ôm tôi, đây là cái đà vô cùng thuận lợi, là cơ hội ngàn vàng mà Hà Giang có thể chớp lấy để phát động một phong trào, một cuộc vận động rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, công chức, quan chức tham gia.

Cuộc vận động này có thể mang các nội dung đại loại như sau: Tỉnh Hà Giang quyết tâm đoàn kết để nói không với tệ nạn mua dâm trẻ vị thành niên; hoặc: Tỉnh Hà Giang kiên quyết, ngăn chặn, đẩy lùi từng bước tệ nạn mua dâm trẻ vị thành niên

Khi xưa trong thời chiến tranh, nếu một địa phương nào đó bị địch đánh phá ác liệt, chịu tổn thất nặng nề thì tại địa phương đó, nhân dân đã tự phát phát động phong trào: Biến đau thương thành hành động cách mạng, kết quả là tại địa phương đó sức sống quật cường đã được khơi dậy, nhân dân lại hăng hái bám trụ để vừa sản xuất vừa đánh trả kẻ thù.

                                                 Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô

Còn chuyện ở Hà Giang vừa xảy ra, phải coi đây là một trong những hành vi tủi nhục mà đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Hà Giang đã phải hứng chịu. Đích thân Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô đã phải lên tiếng:” Hiệu trưởng mua dâm nữ sinh là một việc động trời, không thể hình dung được. Đây là một việc làm đáng xấu hổ và không thể chấp nhận với một thầy giáo đồng thời là người đứng đầu một trường cấp 3 ???” 

Còn ông Lê Quang Triều – Chủ nhiệm UB Kiểm tra (UBKT) tỉnh uỷ Hà Giang thừa nhận đã thật sự “choáng” khi đọc thấy tên một số cán bộ, đảng viên công chức trong tỉnh.


 

                                               Ông Lê Quang Triều Chủ nhiệm UBKT tỉnh uỷ Hà Giang

Nói về việc xử lý những cá nhân có tên trong “danh sách đen” nếu thực sự có thật theo đơn kiến nghị. Ông Triều khẳng định, UBKT tỉnh ủy Hà Giang sẽ xử lý theo qui định. UBKT đang tiến hành yêu cầu những người liên quan có tên trong “Danh sách đen” làm giải trình về sự việc trong thời gian tới.

Ông Triều đánh giá:” Vụ án “hiệu trưởng mua dâm học sinh” là vụ rất nghiêm trọng. Vì thế, ngay sau khi vụ việc bị phát giác, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các tổ chức Đảng tiến hành kiểm điểm trách nhiệm của các cơ quan quản lý gồm trách nhiệm người đứng đầu ngành Giáo dục tại tỉnh và phòng Giáo dục huyện Vị Xuyên. Sau đó, Tỉnh ủy cũng đã triển khai ngay một cuộc sinh hoạt chính trị để quán triệt nghiêm túc…”

Kết thúc buổi trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Triều cho biết thêm:” Theo quy chế của quá trình thanh tra và kiểm tra, nếu có chuyện cán bộ, đảng viên vi phạm. UBKT tỉnh ủy sẽ chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xem xét, điều tra, làm rõ theo đứng quy định của pháp luật.”

Vậy thì còn gì phải bàn nữa, Hà Giang vào cuộc đi thôi, vì không có một cuộc vận động nào mà có sự nhất hô, bá ứng như cuộc vận động này; đại diện của hai cơ quan quyền lực của tỉnh đã gióng trống, nhiều cơ quan quan trọng đã khua chiêng sẵn sàng tham gia vào cuộc cuộc vận động này.

Hiện nay để nghĩ ra và phát động được một cuộc vận động, một phong trào thi đua để huy động được không chỉ sự tự giác, tự nguyện ủng hộ, đồng lòng của nhiều cấp nhiều ngành, nhiều giới, nhiều tầng lớp nhân dân tham gia một cách nhiệt tình say sưa là chuyện rất khó.

Nếu Hà Giang biết nắm lấy cơ hội vàng này: dư luận đang bức xúc, các cơ quan chức năng đang ráo riết vào cuộc, các phương tiện thông tin đại chúng đang hào hứng tham gia…thì Hà Giang nhất định sẽ lập được thành tích to trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đẩy lùi tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn xâm hại tình dục trẻ vị thành niên…

Nếu biết tổ chức tốt thì biết đâu: Hà Giang sẽ trở thành lá cờ đầu, các đồng chí lãnh đão tỉnh có khi lại được mời đi báo cáo điển hình tại các địa phương khác để nhân rộng mô hình trọng tâm, trọng điểm; biết đâu Hà Giang lại trở thành điểm đến của các cuộc tham quan, học hỏi mô hình tiên tiến trong việc phát động toàn dân tham gia, tuyên bố nói không với tệ nạn xâm hại tình dục trẻ vị thành niên.

Trong bó đũa chọn ngòn cờ, để phong trào phát triển bền vững, vừa có chiều rộng và chiều sâu, lại được tổ chức chặt chẽ, theo Hai Xe Ôm tôi, Hà Giang nên cử ông Nguyễn Trưởng Tô, đương kim Chủ tịch tỉnh làm Trưởn ban Vận động đợt sinh hoạt chính trị-văn hóa-xã hội này; ông Nguyễn Quốc Triều, Phó Ban thường trực; mời thêm đại diện của các ngành công an, bưu điện, ngân hàng trong danh sách phó ban…

Trong danh sách Ban tổ chức vận động tỉnh nhất thiết phải có thêm các thành viên đại diện cho Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội chim cá cảnh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội leo núi .v.v.Tóm lại trong Ban tổ chức vận động nên thu hút nhiều thành phần tham gia càng đảm bảo cho phong trào được hưởng ứng sâu rộng và có chiều sâu.

Với cơ cấu tổ chức vận động như vậy nhất định phong trào sẽ thành công rực rỡ và Hai Xe Ôm cũng sẽ hứa theo dõi và cập nhật thường xuyên tin tức để kịp viết bài động viên, biểu dương.

Mấy lời gửi tới các cơ quan chính quyền tỉnh Hà Giang như một nghĩa cử: Con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.

Hà Giang hãy cố lên sau sự cố đau thương, tủi nhục này. Cả nước luôn hướng về Hà Giang, luôn sát cánh bên cạnh Hà Giang cũng sẽ chia trước mọi vui buồn thử thách và cả sự phấn đấu…

Chào Hà Giang, người lính gác cửa ngõ biên cương phía Bắc, nơi có điểm cực bắc của Tổ Quốc, nơi có ngọn cờ Lũng Cú nổi tiếng hãy xốc lại đội ngũ, vượt lên nỗi đau tủi hổ để lập thành tích mới, khí thế mới trong năm Canh Dần sắp tới…

Cột cờ Lũng Cú-Hà Giang

                                                                                                                                        H.X.Ô.

                                                                                                         HAI XE ÔM

( Cập nhật theo Vnexpress.net có thêm phần lời bình của Hai Xe Ôm vào cuối bài… )

“Tôi bị bệnh tiểu đường, viêm tinh hoàn. Bộ phận sinh dục của tôi bị teo nhỏ như của một đứa trẻ lên ba. Từ lâu, tôi đã không thể quan hệ tình dục được”…

Nếu lời khai của Sầm Đức Xương là đúng sự thật thì Sầm Đức Xương không phải là tay chơi theo nghĩa thông tục mà có khi chơi…bằng tay hay bằng thứ khác cũng nên ??? 

Bị cáo Sầm Đức Xương không thừa nhận đã quan hệ tình dục với các nạn nhân vị thành niên và tất cả các lời khai trong hồ sơ tại cơ quan điều tra (công an huyện Vị Xuyên, Hà Giang) là không đúng sự thật.https://i2.wp.com/images.vietnamnet.vn/dataimages/201001/original/images1915194_2.jpg
Giải bị cáo Sầm Đức Xương vào toà phúc thẩm

Phiên tòa phúc thẩm vụ án “hiệu trưởng mua dâm” đã sang đến ngày thứ 2. Trong buổi sáng ngày 28/1, HĐXX  tiến hành phần xét hỏi bị cáo Sầm Đức Xương. Khai trước tòa và trả lời thẩm vấn của HĐXX, Sầm Đức Xương đã phủ nhận hoàn toàn những lời khai ghi trong hồ sơ của cơ quan điều tra Công an huyện Vị Xuyên và một mực kêu oan.

Mô tả ảnh.

Đưa các bị cáo vào toà phúc thẩm sáng 27/1.

Bị cáo Sầm Đức Xương nói trước tòa:

Tôi không bao giờ ngủ với học sinh của mình!

Trước hết, tôi là một nhà giáo, một hiệu trưởng, tôi không bao giờ làm cái việc đồi bại là ngủ với học sinh của mình.

Thứ hai, tôi bị bệnh tiểu đường và viêm tinh hoàn, 3 năm trở lại đây không còn khả năng quan hệ tình dục.

Thứ ba: trước khi bị bắt 02 ngày tôi có nhận được một cuộc điện thoại nói rằng sẽ có một nhóm học sinh và một nhóm người sẽ đứng ra tố cáo tôi.

Tôi cho rằng mình bị người khác hãm hại, mất toàn bộ công danh, sự nghiệp.

Bị cáo Sầm Đức Xương khai tại tòa: 13h ngày 07/09/2009, tôi bị công an huyện Vị Xuyên bắt tạm giam tại nơi làm việc.  Việc xét hỏi kéo dài từ chiều 07/09/2009 đến 01h sáng ngày hôm sau. Lúc đó, vì quá mệt mỏi do xét hỏi quá dài, và để… cho xong nên tôi phải ký vào biên bản xét hỏi!.

Về tội danh “mua dâm nhiều lần trẻ vị thành niên” bị truy tố tại phiên sơ thẩm, bị cáo Sầm Đức Xương phủ nhận hoàn toàn và khẳng định không quan hệ tình dục với học sinh nào. Tất cả những lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy là sai, không đúng sự thật.

Sầm Đức Xương khai thêm: “Tôi bị bệnh tiểu đường, viêm tinh hoàn. Bộ phận sinh dục của tôi bị teo nhỏ như của một đứa trẻ lên ba. Từ lâu, tôi đã không thể quan hệ tình dục được”.

Trước tòa, bị cáo Xương đã xin phép HĐXX, nếu HĐXX cho phép sẽ cởi quần áo để chứng minh ngay tại phiên tòa. HĐXX đã bác bỏ đề nghị này và đưa ra công văn của Sở Y tế phúc đáp công văn của cơ quan điều tra về việc người bị mắc bệnh tiểu đường có ảnh hưởng đến khả năng quan hệ tình dục hay không. Trong công văn trả này, Sở Y tế cho biết không ảnh hưởng gì tới khả năng quan hệ tình dục.

Trao đổi với phóng viên, luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thuý cho rằng: “Đấy mới là công văn trả lời của Sở Y tế, chứ không phải là kết quả giám định pháp y của cơ quan chuyên môn. Do đó, thông tin trên không có giá trị!”.

Có mặt tại tòa sáng hôm nay, bị cáo Sầm Đức Xương tỏ ra khá bình tĩnh. Ngoài việc khẳng định mình không có tội, không quan hệ tình dục với các nạn nhân vị thành niên và tất cả các lời khai trong hồ sơ tại cơ quan điều tra (công an huyện Vị Xuyên) là không đúng sự thật.

Theo nhận định của các luật sư, rất có thể phiên tòa sẽ phải kéo dài sang ngày thứ ba. Chiều nay, nếu như tiến hành xong việc xét hỏi các bị cáo sẽ đến phần tranh tụng của các luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho bị cáo.

Lời khai chấn động: Nhiều VIP cấp tỉnh đã mua dâm các em học sinh.

Ngoài phải làm “nô lệ” tình dục cho thầy hiệu trưởng, tại phiên xử chiều 27/1, hai cựu học sinh THPT Việt Lâm (Hà Giang) khai đã bán thân cho một số nhân vật VIP – bạn của ông Xương.

Các bị cáo sau phiên xử chiều 27/1. Ảnh: Hoàng Anh.

Dù bị bệnh thấp khớp gối hành hạ nhưng bị cáo Nguyễn Thúy Hằng vẫn khai tường tận câu chuyện khiến nhiều người giật mình. Danh tính, nơi công tác của một số người mua dâm, Hằng cho là doanh nhân, cán bộ có vị thế ở Hà Giang đã được cô nêu công khai trước HĐXX.

Nữ bị cáo có nước da trắng, đôi lông mày rậm khẳng định đây là những người đã bỏ tiền để được cô “phục vụ”. “Mỗi lần “đi” tôi nhận được lời dặn của ông Xương rằng họ là những người lắm tiền”” bị cáo 19 tuổi khai.

Mỗi lần được phục vụ, những vị khách này trả thấp nhất 500.000 đồng, cao nhất 5 triệu đồng. Theo Hằng, thông qua bạn bè, những cuộc ăn nhậu cô đã biết được tên tuổi và chức danh của họ. Danh sách các vị khách VIP đã được Hằng gửi cho luật sư bào chữa.

Tại tòa chiều 27/1, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy cũng cho biết, ngoài 3 lần phục vụ ông Xương cô còn bị thầy ép phục vụ bạn bè ông ta để mang tiền về. Trong danh sách này có một số tên trùng với những danh tính mà Hằng đã khai.

“Những tình tiết trên tôi chưa khai tại phiên sơ thẩm vì một cán bộ dặn phải khai đúng như trong bản cung để có lợi nên tôi làm theo”, bị cáo cột tóc đuôi gà giải thích.

Mặc dù bị Hội đồng xét xử cảnh báo, nếu khai không đúng có thể sẽ bị ghép tội vu khống, cô gái này vẫn một mực khẳng định toàn bộ lời khai là đúng và có cơ sở.

Bị cáo Sầm Đức Xương (áo thẫm). Ảnh: Hoàng Anh.
Trong phòng xử kín rộng chừng 50 m2 chỉ có trên 10 người dự khán. Nhiều phóng viên không được tham dự phiên tòa, buộc phải đứng ngoài. Phiên xử đã thu hút sự chú ý của rất đông người dân tỉnh miền núi. Cảnh sát cũng đã được huy động để làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự bên ngoài phòng xử án.

Trong 3 lần bán dâm cho ông Xương, bị cáo Thúy cho biết chỉ duy nhất lần đầu tự nguyện. Hai lần tiếp đó là bị nguyên hiệu trưởng trường cấp 3 này ép buộc. “Lúc đó đang là cuối cấp nên nghe bị đe doạ đến chuyện kết quả học tập bị cáo đã chấp nhận”.

Cũng như phiên xử buổi sáng, chiều 27/1, Thúy một mực kêu oan về tội danh môi giới mại dâm bởi bị cáo chỉ có vai trò đi cùng và nhận tiền hộ. Cô cho biết, lời khai của các nạn nhân mà Hội đồng xét xử đọc tại tòa chỉ là một chiều, chưa có cơ hội đối đáp trực tiếp (tất cả nạn nhân đều vắng mặt).

Bên lề phiên xử, mẹ của hai bị cáo cho rằng dù phiên phúc thẩm thẳng thắn và minh bạch hơn phiên sơ thẩm nhưng một số thành viên hội đồng xét xử vẫn ngắt lời, không cho con họ có cơ hội chứng minh. “Tôi nghĩ phiên xử này vẫn còn nhiều điều khuất tất chưa được làm rõ”, mẹ của bị cáo Thuý nói.

Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, phóng viên VnExpress  đã liên hệ qua điện thoại với một người bị 2 bị cáo nêu danh tính “đã từng có chuyện mua bán dâm”. Sau lúc ngập ngừng “có lời khai à?”, vị này nói ngắn gọn: “Vấn đề phức tạp, mình không có bình luận gì thêm. Họ khai thế nào là việc của họ, đúng hay sai đã có cơ quan chức năng xem xét”.Oan em quá!

Chim em bị bất lực 3 năm nay rồi mà!

( Lời khai này của Sầm Đức Xương làm Hai Xe Ôm nhớ đến câu ca của đám công chức hư hỏng hay truyền tụng nhau: Ngày xưa bao cấp thì nghèo; Bây giờ sung sức nó teo mất rồi ??? )

Ba năm nay tôi bị bệnh không thể quan hệ tình dục. Tôi còn là nhà giáo thâm niên 30 năm, đáng tuổi cha chú sao có thể làm chuyện đó…”, cựu hiệu trường Sầm Đức Xương phủ nhận cáo buộc đã mua dâm cả chục nữ sinh.

Khác với phiên tòa vắng vẻ hôm qua, sáng nay khoảng 40 người đã có mặt trong phòng xử án.

Ông Xương được dẫn giải ra xe. Ảnh: Hoàng Anh.

Dù cho biết sức khỏe không được tốt nhưng cựu hiệu trưởng trường Việt Lâm vẫn tự tin, dõng dạc phản bác lại phần buộc tội của cơ quan công tố. Ông Xương cho biết đã kêu oan ngay từ phiên sơ thẩm, đề nghị được đối chất với những học sinh tố cáo bị ông ép quan hệ tình dục… Nhưng những vấn đề này không được quan tâm.

“Tôi không rõ phiên sơ thẩm đó có ép buộc gì hay năng lực của họ kém. Cái này xin HĐXX phúc thẩm cần xem xét”, bị cáo Xương nói.

Trong lời khai sáng nay, ông Xương đưa ra hàng loạt các lý do để chứng minh “không có khả năng”, như cơ quan sinh dục có vấn đề từ lâu, lại bị bệnh tiểu đường nhiều năm… Do vậy, ông không thể “lên giường” với bị cáo Thúy, Hằng cùng gần chục học sinh khác.

Bị cáo 53 tuổi này mạnh mồm cho rằng nếu những người có mặt tại phiên tòa không tin, ông có thể chứng minh “khả năng đàn ông” ngay giữa tòa. Những bệnh trên ông đã đến khám tại Bệnh viện đa khoa Hà Giang.

Tuy nhiên, những lời khai này của ông Xương bị đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa cho rằng không thuyết phục. Theo vị này, bệnh tiểu đường không làm ảnh hưởng đến khả năng tình dục. VKS còn công bố giám định mới nhất cho thấy “bệnh” của người đàn ông này là rối loạn cương.

Hai bị cáo Hằng và Thúy. Ảnh: Hoàng Anh.

HĐXX vặn hỏi lý do phản cung, người từng đứng đầu trường Việt Lâm trả lời khi bị bắt, sức khỏe không tốt, lại hoang mang lo sợ nên đã “ký bừa bản cung”. Ông còn tố cáo đã bị một kiểm sát viên dụ dỗ để lấy cung. “Người ta hứa nhiều thứ nên tôi cứ nhận cho xong”, ông Xương khai.

Đại diện VKS vặn lại: “Bị cáo không quen biết với kiểm sát viên, không “đút lót” tiền cho vị cán bộ này tại sao họ lại hứa?”. Ấp úng hồi lâu, ông Xương lúng túng: “Cái này tôi chả biết”.

Mặc dù được đại diện VKS nhắc nhở cần cân nhắc kỹ trước câu trả lời, HĐXX cũng cho thời gian suy nghĩ nhưng bị cáo Xương vẫn một mực cho rằng bị oan.

Trước những tố cáo của Hằng và Thúy về việc trở thành “món hàng” để ông Xương quan hệ tình dục và bắt đi “phục vụ” bạn bè, bị cáo này lý giải “do là người chống các tệ nạn xã hội ở trường và địa phương nên bị một số người trù úm”.

Ông cho biết, những lá đơn của bị hại cũng như lời khai hôm qua của Hằng và Thúy là “hoàn toàn vu khống và bịa đặt”.

Nguyên hiệu trưởng trường THPT Việt Lâm cho rằng chính lý do nhiều lần nhắc nhở và mời phụ huynh đến trường để giải quyết những vi phạm trong quá trình học tập nên Hằng và Thúy đã có “âm mưu” hãm hại ông.

“Ngoài Hằng và Thúy chắc chắn còn có một số người khác đứng đằng sau giật dây để tôi mất chức quyền”, ông khai. Sau câu trả lời này, phòng xử án đang im phăng phắc bỗng rộ lên những tiếng cười khúc khích, đầy ẩn ý.

Ông Xương dẫn ra bằng chứng: “Tôi liên tục nhận được cuộc tin nhắn dọa dẫm sẽ hạ uy tín. Điện thoại bàn ở trường cũng bị gọi tới…. Tất cả tôi đã báo cho cảnh sát”.

Để “hạ hỏa” cho bị cáo này, rất nhiều lần HĐXX trấn an, nhắc nhở “cứ bình tĩnh”. Tuy nhiên hành động tỏ ra bức xúc, bực tức của bị cáo Xương liên tục lặp lại.

Bị cáo Xương cho biết, Hằng và Thúy là những học sinh cá biệt, thường xuyên bỏ tiết. Họ là người chủ động gạ gẫm ông mua dâm. Nếu đó là học sinh ngoan chắc chắn ông không phải chịu “hậu quả” ngày hôm nay.

Phản ứng với lời khai này, mẹ của bị cáo Hằng đứng phắt dậy bảo điều đó là không đúng. Bà chưa bao giờ bị nhà trường mời đến giải quyết về việc học tập, đạo đức của con gái.

Bị cáo Hằng và Thúy cũng một mực cho rằng ông Xương đã quan hệ với các cô 7 lần, ngoài ra còn có quan hệ với nhiều học sinh trong trường. Các nữ sinh được thầy hiệu trưởng “để mắt” thường có dáng phổng phao, hình thức ưa nhìn…

(Cập nhật từ http://vnexpress.net)

 

LỜI BÌNH CỦA HAI XE ÔM:

Như vậy, phiên tòa đã không còn đơn giản chỉ là chuyện mua bán dâm ở trường phổ thông trung học Việt Lâm ở Hà Giang mà đã đến hồi quyết liệt: “chuyện bé đã xé ra to”; bị cáo đã không ngượng ngùng đưa,  lôi ra tòa cả những chuyện  nhem nhuốc mà bình thường đố ai dám làm. Ví như việc đường đường là Hiệu trưởng một trường trung học, thế mà sẵn sáng tụt quần trước tòa để chứng minh sự vô can, vô tội; lôi ra tòa một lô một lốc những vị mũ cao áo dài, tai to mặt lớn của Hà Giang từng tham gia cái đường giây  mua dâm trẻ vị thành niên do “Tú Ông” Sầm Đức Xương cầm đầu…

Vụ án này chắc không chỉ làm các quan tòa Hà Giang đau đầu; vụ án còn làm chấn động nhiều cơ quan chức năng tại Hà Giang, làm hoang mang các cơ quan chức năng ngành tư pháp và dư luận xã hội…

Qua những gì đã xảy ra tại phiên tòa này trong hai ngày qua, làm cho Hai Xe Ôm sực nhớ tới một phiên tòa cổ xưa có nhiều tình tiết phức tạp căng thẳng không khác gì phiên tòa đang xử tại Hà Giang. Chuyện xưa kể như sau:

Có một lần 3 chị hàng xóm rửng mỡ bỗng dưng cãi nhau xem kiến thức của người kia về cái chất liệu của cái của quý của đàn ông, tất nhiên thông qua việc kiểm chứng cái của quý của chồng.

Chị A nói, theo chị cái của quý của đàn ông nó được cấu tạo bằng xương; cứng như thép không rỉ.

Còn chị B. thì cho rằng cái của quý của đàn ông được tạo hóa cấu tạo bằng gân, có sức đàn hồi, co dãn rất mạnh, run bần bật, nó được cấu tạo bằng gân thì mới có sức bật dẻo dai, bật ghê gớm như vậy…

Còn chị C, lại cãi rằng cái ấy của đàn ông là thứ làm bằng da bèo nhèo…

Ba chị cãi nhau òm xòm làng xóm, không ai chịu ai cuối cùng quyết định đưa đến cửa quan nhờ phân xử xem thứ đó thực chất nó là xương, là gân hay là da bèo nhèo…

Sau khi quan thụ lý vụ án, liếc mắt đưa tình các nguyên đơn đang ở tuổi xồn xồn, quan tòa đi đến giải pháp: tổ chức đối chất kín từng người một để tìm ra sự thật và làm rõ xem ai đúng, ai sai…

Quan tòa gặp riêng, kín từng đương sự vào những ngày khác nhau để cho nó khách quan và tránh thông cung…Sau khi đã đối chất cẩn thận và xin ý kiến chỉ đạo của quan trên, có tổ chức nghị án đúng trình tự, thủ tục pháp lý; Tòa mới cho triệu kiến 3 nguyên đơn đến phán xử.

Khi đến gặp quan tòa lần, cử tọa thấy 3 chị có vẻ hòa nhã hơn, không thấy xồn xồn như hôm đầu. Điều kỳ lạ là: thỉnh thoảng cử tọa lại thấy các chị liếc mắt nhìn nhau và liếc nhìn quan tòa tủm tỉm cười. Những người dự phiên tòa đoán già đoán non không biết quan tòa có trình độ và cao minh thế nào mà khiến cho các mẹ này bỗng dưng dịu hẳn xuống, lại còn tỏ ra cởi mở với nhau, không còn căng với nhau về chuyện đúng sai nữa.

Sau khi cử tọa vào đúng vị trí, quan tòa hắng giọng cho ra vẻ nghiêm trang và tuyên án. Bản án mà chánh tòa tuyên lại viết bằng văn vần ngắn gọn chứ không tràng giang đại hải những trích dẫn điều luật nọ kia; bản án tuyên chỉ có 3 câu ngắn gọn sau đây:

Nhớ nhớ thương thương thì c… xương là đúng

Ái ái, ân ân thì c… gân là phải rồi

Đút vô, rút ra thì c…da là không sai !!!

Chánh tòa chỉ tuyên có 3 câu mà 3 thị đã đỏ mặt tía tai bỏ chạy ra khỏi phòng xử án, để lại phía sau tiếng vỗ tay rào rào của những người dự phiên tòa vì bái phục tài Chánh Tòa. Bằng việc đối chất kín với từng nguyên đơn, chánh tòa đã chứng minh ngược lại: ý kiến của các bà đều đúng tất, không có ai sai.

Phiên tòa đã kết thúc có hậu: Hòa và vui vẻ cả làng…

Không biết phiên tòa phúc thẩm ở Hà Giang các chánh tòa sẽ tuyên như thế nào đây, có hậu không, có hòa cả làng không ? Dư luận đang chờ xem chuyện này trong những ngày tới…

H.X.Ô.

Đăng bởi: phamvietdaonv | 22.01.2010

BẮT ĐỊNH LÊ VUA VỆ MẮC MƯU THÂM

BẦY TẦN CÀI PHÁ RỐI MỐI GIAO THƯƠNG GIỮA OMA VÀ NƯỚC VỆ… 

                                                                La Quán Cơm.

Lại nói, sau khi đã cử quân sang xâm lấn đất Vệ, cho vua quan nước Vệ một bài học, hành động quân sự này của nước Tần thực chất là một sính lệ ngoại giao mà nước Tần muốn  bày đặt để dâng cho đế quốc Oma. Bắt tay được với Oma, nước Tần đã bắt đầu thoát ra khỏi thế bị cô lập, dân chúng bắt đầu có cơ làm ăn thoát dần đói khổ vì bán hàng được cho Oma và nhiều nước khác…

Mặt khác trong nội bộ cung đình Vua Tần cũng chia ra làm hai phái: phái chủ trương hiện đại hóa quân đội để gia tăng nghề ăn cướp; một phái chủ trương ôn hòa, đánh vào lóng người; hai phái này tranh giành nhau quyết liệt khiến cho Vua Tần chưa biết nên ngả theo hướng nào. Để thuyết phục Vua Tần, phái chủ chiến bày ra cuộc tấn công nước Vệ với danh nghĩa dạy cho nước Vệ một bài học và để ra uy với láng giềng; thực chất là để thử sức trình độ tác chiến của quân đội nước Tần…Cuộc chiến tranh chớp nhoáng, quân Tần tuy đã tiến vào được nước Vệ được dăm bảy chục dặm nhưng đã phải chịu tổn thất nặng nề; mặc dù quân Tần mới chỉ đụng độ với quân bản địa của nước Vệ. Cuộc chiến kết thúc, quân Tần tổng kết: để giết được một lính Vê, quân Tần phải bỏ mạng 3 tên…Thế là phái chủ chiến có cớ tấu lên yêu cầu Vua Tần phải hiện đại hóa quân đội; giành nhiều ngân khố cho đám lục lâm thảo khấu này. Cuộc chiến năm Ất Mùi giữa Tần và Vệ thực chất là mượn máu của quân dân hai nươc Tần- Vệ để cùng cố vị trí thang bậc cho đám triều thần chóp bu của nươc Tần…

Dân nước Tần vốn là dân lam lũ,  giàu ý chí bấy lâu bị trói chân trói tay vì phong kiến thực dân và những thứ nhảm nhí về tư tưởng; giờ có dịp giao lưu với bên ngoài, với đế quốc Oma vẫn được coi là xứ sở của tự  do. Dân Tần tiến bộ rất nhanh. Vua quan và dân Tần nghiệm ra rằng: phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi tiền bất thành đế quốc… Sau khi bắt tay được với đế quốc Oma, họ tranh thủ mở rộng giao thương, tranh thủ học cái khôn của thế giới để dân bớt đói khổ đồng thời cũng là dịp đẩy bớt  dân Tân ra khỏi bỡ cõi của mình vì dân Tân đẻ rất nhanh…

Người nước Tần ra thế giới bên ngoài làm ăn không khỏi không bị kỳ thị, bởi xưa nay người Tần đi đâu cũng hay để lại tiếng xấu là: lừa thầy, phản bạn, chiếm đất, chiếm tài nguyên, chiếm gái đẹp của người ta… Họ cứ nhìn tấm gương trong quan hệ giữa Tần và Vệ mà họ kinh: hôm trước vừa là đồng chí, vừa là anh em hôm sau đem quân sang giết nhau không từ một trò ác, đểu, tiểu nhân nào mà không giở ra ?

Người Tần cũng dần dần thấy rõ điều đó, muốn có quan hệ tin cậy, mua chịu hàng hoá của các nước khác thì phải cải thiện quan hệ với nước Vệ hàng xóm; gặp ai cũng giơ tay ra hảo hảo nhưng đối với hàng xóm cạnh mình thì lại quan hệ như chó với lợn thì nói ai mà tin được.

 Mặt khác Tần cũng thấy nếu cứ cô lập dân Vệ cũng không xong, dân Vệ cũng vốn là dân đói khổ nhưng ngoan cường, tổ tiên người Tần không đồng hoá được dân Vệ thì bây giờ có quay lưng, bao vây, chơi đểu cũng chẳng làm gì được người ta. Thế là Tần và Vệ quay sang đấu dịu với nhau, bắt tay với nhau, bỏ qua chuyện cũ, quay lại phục hồi lại những lời vàng ngọc, 16 chữ vàng, giao hảo khi xưa để mà lợi dụng lẫn nhau.

Nước Vệ cũng có tính toán của nước Vệ bởi, cha ông nước Vệ khi xưa vẫn luôn biết mình ở vào thế nước nhỏ, cạnh nước lớn, có nhũn nhịn một chút hơn là luôn để cho ông hàng xóm hung đồ luôn lườm nguýt thì khó làm ăn. Nước Vệ cũng mở cửa giao thương như nước Tần, hai bên xác lập quan hệ bây giờ là ” đồng đảng” chứ không phải là ” đồng minh“…Anh có đường anh và tôi có đường tôi.

Tuy vậy nước Tần cũng dần dần nhận thấy tiềm năng của nước Vệ rất lớn, ngoài sức người, sức của, tài nguyên mới được phát hiện rất nhiều như mỏ dầu, mỏ xitbeo…

Nước Vệ ngoài cải thiện quan hệ với nước Tần cũng đã tìm cách bắt tay với nước Oma, kẻ thù cũ trong quá khứ, mặc dù phía Oma vẫn còn nhiều điều nghi kị chưa tin vua Vệ thực lòng muốn chơi thành thật với mình, chịu nghe theo mình.

Cả Tần, Oma và Vệ chơi với nhau đều theo đuổi cái lợi, thế là xảy ra sự tranh giành giữa Tần với Oma trong việc thiết lập phạm vi ảnh hưởng với nước Vệ. Nước Vệ cũng tự nhận thấy: không quan hệ tốt với Tần cũng nguy, nhưng nếu bị Tần xỏ mũi thì cũng gay…Con đường duy nhất để bào vệ được mình là chơi với cả ha, đa phương hoá quan hệ. Trong quá khứ nước Vệ cũng đã từng chơi cách đó với nước Tần và nước Ngu; cân bằng 2 bên để kiếm lợi từ hai phía, mặc dù Tần và Ngu là hai nước kình địch nhau…

Tần cũng thấy rõ vua Vệ tìm cách bắt cá hai tay chứ không ngả hẳn về phía Tần như cái thời trước đây. Thế là Tần luôn tìm mọi cách để lý gián quan hệ giữa Vệ và Oma để vua Vệ lệ thuộc hẳn vào mình. Tần đã có trăm phương ngàn kế để phá quan hệ giữa nước Vệ và Oma, vụ điển hình nhất đó là vụ mật vụ Tần dựng nên màn kịch để cho vua Vệ bắt Định Lê là một con bài, một cái bẫy mà Tần tạo dựng lên để lừa vua Vệ và lừa cả vua Oma…

Vụ Tần lừa Vệ tóm lược như sau: Tần âm mưu khuyên Vệ nên tổ chức khai thác loại quặng xibeau có nhiều ở vùng đất Nguyên Tây của nước Vệ. Nước Tần là nước có truyền thống giỏi về phong thuỷ: Vua Tần khuyên vua quan nước Vệ rằng: nếu lấy cái chất xitbeau luyện tôi bằng công nghệ của nước Tần để chế tác ra thành quan tài thì khi chôn xuống ngôi mộ trăm phần trăm sẽ kết phát, con cháu sẽ đời đời ngồi đấy mà hưởng lộc, không phải làm ăn gì cả.

Nghe nước Tần khuyên, đám quan lại và loại trưởng giả, trọc phú mới ngoi lên của nước Vệ ào ạt dâng sớ đề nghị Vệ vương nhanh chóng đào bởi chất xibeau để làm quan tài bán cho họ. Gia đình nào cũng ký hợp đồng, cam kết mua dăm mười cái để giành để khi ai chết có cái mà chôn…

Giới học giả, sĩ phu nước Vệ thấy rõ đây là trò bịp của nước Tần liền dâng sớ khuyên can vua Vệ chớ có nghe Tần xui dại mà cho người Tần vào Nguyên Tây khai mỏ xibeau; đây là vùng đất trọng yếu của nước Vệ mà ai chiếm được sẽ làm chủ được nước Vệ. Đây chẳng qua là trò ” mượn đường diệt Quắc” xưa như trái đất của vua Tần…

Còn nhớ khi Vệ đánh bại đế quốc Oma, vua nước Vệ là Dun Lê có sang cảm tạ sự giúp đỡ của vua nước Tần là Đông Mao, trong cuộc vui chén tạc chén thù, cao hứng lên, Vua Tần là Đông Mao có gợi ý: Nghe nói vùng Nguyên Tây của quý quốc, đất rộng, trù phú mà lại người thưa, nếu chưa có điều kiện khai khẩn thì để Tần Quốc cho sang đó dăm triệu Tần Kiều để cày cuốc giúp đảm bảo sẽ đóng thuế lệ đầy đủ. Nghe vua Tần nói, vua Vệ Dun Lê, lạnh xương sống,suýt tè ra quần, đánh rơi chén đũa xuống y như Lưu Bị nghe Tào Tháo khen mình là anh hùng. Vua Vệ vâng dạ cho qua quýt rồi ba chân bốn cẳng chạy vệ nước Vệ, khuyên thủ hạ nhớ cửa đóng then cài cho kỹ, chớ có lơ mơ với vua Tần…

Để răn đe đám học giả này, Tần cho quân cài Định Lê là một tay chuyên nghề cãi thuê để lấy tiền nuôi vợ nuôi con, giả tảng làm mấy trò nhảm nhí bị lộ nên bị Vệ vương tống giam về tội phản loạn, tổ chức một cuộc cách mạng màu để lật đổ vua Vệ.

Một cái thằng bạch diện thư sinh trói gà không chặt làm sao đủ sức thành lập ra một tổ chức, một đảng để mà lật đổ chính quyền vua Vệ, một chính quyền mà cứ 2 người dân có một cẩm y vệ nội canh chừng…Mặt khác đã đủ khả năng đi cãi thuê sao lại có thể ngu đến mức đi làm cái việc vớ vẩn, dại dột như mèo dấu cứt để có cớ cho người ta bắt giam…

Tạo màn kịch này, một mũi tên nước Tần bắn ra trúng nhiều đích vừa để đe bọn học giả: chúng mày phải trông gương cái thằng Định Lê này mà bớt to mồm đi, đất nước này không phải của chúng mày, chính quyền là tao và nhà nước cũng là tao, để yên cho tao đào mỏ xibeau?

Tạo màn kịch ngô nghê: Định Lê đứng ra đang liên minh với đám phản loạn đang cư trú ở bên nước Oma, giả làm một số việc ngờ nghệch để cho Vệ vương bắt; vụ bắt Định Lê là cái cớ để kích động quan hệ của đám lưu vong này để phá thối quan hệ giữa Vệ và Oma đang tìm cách cải thiện…Một trò thâm của nước Tần…

Sở dĩ có chuyện lắt léo phức tạp này là bởi sau cuộc chiến Vệ và Oma, một số người nước Vệ đã theo đuôi, làm tay chân cho đế quốc Oma theo chính sách: dùng người Vệ trị người Vệ của đế quốc Oma…Oma thua bỏ chạy, đám này đành phải chạy theo chủ. Vì thế nên đám này luôn nuôi mối hận thù vì bị đuổi ra khói quê cha đất tổ, bị bật ra khỏi cố quốc.

Trong đám này, ngoaì những kẻ mù quáng, cố chấp, tin vào những điều nhảm nhí không đâu thì phần đa cái đám phản nước Vệ lưu vong này, dùng chiêu bài chính trị phục quốc để làm mục đích tống tiền cái đám dân nước Vệ lưu vong đang ăn nên làm ra ở đất Oma và còn để mà làm mình làm mẩy với chính quyền nước Oma.

Do vậy, Định Lê thực chất là một “quân xanh“, là một con bài do nước Tần cài cắm để phá quan hệ bang giao giữa Vệ với Oma. Vậy thì đám Định Lê sẽ được lợi lộc gì trong vụ ” affaire chính trị” này ? Có đấy ! Chúng cũng đã ngã giá với vua Tần: xì ra đây dăm trăm cây vàng, muốn làm gì mà chẳng được. Chúng cũng khôn chán, vì giỏi lắm dăm bảy năm tù, bỏ ra 1/3 số vàng kia sẽ được tha sớm, biết đâu ra tù khéo chạy và chịu bỏ tiền vào vài cuộc tài trợ, mua đấu giá hàng cứu trợ có khi còn được tặng danh hiệu Vệ kiều yêu nước nữa là đằng khác…Còn cứ làm nghề cãi thuê thì bao giờ cho đủ tiền mua nhà, bao gái đẹp !

Vua nước Oma một mặt muốn cải thiện quan hệ với nước Vệ nhưng không thể bỏ qua cái đám người Vệ lưu vong một thời từng là công cụ của mình. Giờ đây một tên tự xưng là có liên quan tới tổ chức của đám người Vệ lưu vong thực chất là ” quân xanh” của Tần cài vào. Vua Oma làm sao mà biết được cái trò quái quỷ này, thế là mắc mưu Tần, đứng ra bênh vực Định Lê, làm tăng căng thẳng quan hệ giữa Oma và Vệ đang có chiều hướng cải thiện. Với màn kịch này, Tần đã tạo cớ để cho nước Vệ thêm một lần bị bôi nhọ trước bàn dân thiên hạ…Với mưu thâm này, Tần đạt mục đích cô lập nước Vệ, cột chặt quan hệ nước Vệ với mình mình không cón ai để mà chơi…

Ngoài cái trò quái quỷ kia, Tần còn có một trò quái đản khác đó là dùng gái vùng Trịnh Giang của nước Tần để mê dụ thân vương và quan lại nước Vệ. Vùng Trịnh Giang nước Tần là quê hương của nàng Hạ Cơ khi xưa. Con gái vùng Trịnh Giang này ngoài sự trường túc ra còn có một thứ bí truyền khác, khi động tình tại nách và chỗ kín của họ tiết ra một loại mùi hương mà khiến cho đàn ông dù bị bệnh ung thư ở giai đoạn cuối cũng bật dậy, chồm lên được như dê, như ngựa…Không ít quan lại nước Vệ sang công tác tại nước Tần đều được vua Tần cho khoản đãi món này. Món này đã được hưởng một lần thì nghiện như nghiện heroin, lâu lâu không được thưởng thức một cái thì không làm ăn gì được. Do vậy không ít quan lại nước Vệ đã qua lại nước Tần rồi thì tìm mọi cách để trở lại lần hai, lần ba vì không thể quên được cái khoản ngoại giao kia…

Nghe nói, tại nước Tần có một trại trẻ, thực chất là trại con tin để chăm sóc những đứa con rơi của các thân vương và quan lại nước Vệ khi sang nước Tần công tác. Hạt giống đỏ này được nước Tần chăm sóc, chu đáo để sau này còn dùng tới, ví như sau này cho về và phong làm vương, làm tướng nước Vệ thì vô cùng yên tâm vì trong chúng đều có ìt nhiều giòng màu của người Tần…

Quan hệ bang giao giữa nước Vệ, nước Tần và nước Oma còn nhiều chuyện ly kì, muốn biết Vệ vương làm cách nào để thoát ra khỏi cái thòng lọng ngày càng thít chặt của vua Tần, hẹn bạn đọc đến hồi sau kể tiếp…

L.Q.C.

Đăng bởi: phamvietdaonv | 11.01.2010

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ QUẢNG BÁ VĂN HỌC VIỆT NAM:

THÀNH CÔNG BẤT NGỜ VƯỢT CẢ MONG ĐỢI !

Phạm Viết Đào.


Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam được khai mạc vào ngày 5/1/2010 và kết thúc vào tối ngày 10/1/2010 đã mang lại những kết quả khích lệ, một kết thúc có hậu, bất ngờ vượt xa mong đợi của Ban Tổ chức và của các nhà văn Việt Nam.

Hội nghị đã trải qua những ngày đầu chuyệch choạc trong khâu tổ chức vì: chưa có kinh nghiệm tổ chức những hội nghị quốc tế lớn; nhưng để bù lại, sự nhiệt tình, hiếu khách, tình cảm với văn học và với bạn văn quốc tế cộng với cảnh sắc văn hóa, thiên nhiên con người Việt Nam, sự trân trọng văn học của giới văn học Việt Nam, của các cơ quan hữu quan của Việt Nam đã thật sự làm xúc động và cảm hóa giới văn học quốc tế…

Nhà văn Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu và các nhà văn Mỹ

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Dịch giả Mỹ Breton, Phó Chủ tịch thành phố Hà Nội và nhà thơ Bằng Việt

Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh nhận quà của nhà văn Cămpuchia

Buổi bế mạc tổ chức vào tối ngày 10/1/2010 đã trở nên nóng ran bởi những tiếng nói nhiệt thành của các bạn văn quốc tế đối với nền văn học Việt Nam, đối với đất nước con người Việt Nam và những tràng vỗ tay không dứt bởi sự sung sướng trước những lời nói, tình cảm mà các bạn văn quốc tế giành cho văn học Việt Nam.

Nhà văn Trần Nhương và nhà thơ Nga

Thành công lớn nhất của hội nghị đó là cơ hội để chúng ta giới thiệu với thế giới, một đất nước Việt nam chuộng văn hơn chuộng võ. Trong khi thế giới đang khủng hoảng kinh tế, trong khi thế giới hết nơi nay đến nơi kia súng đạn vẫn nổ rền, cùng với máu đổ, chết chóc; trong khi thế giới tại không ít quốc gia, thế lực đang say máu  chạy đua vũ trang để trang bị những vũ khí ngày càng ác hiểm hơn thì người Việt Nam, đất nước Việt Nam lại đứng ra bày tỏ với thế giới: Đất nước này rất yêu văn học, rất chuộng văn chương, đang hết mình với văn chương… Điều này trong tuần qua chúng ta đã chứng minh được với thế giới bằng sự thái độ và tình cảm chân thành với văn học, với bạn văn đến khắp các châu lục.

Hơn 100 nhà văn đến từ 32 quốc gia khắp các châu lục đã đến với chúng ta để cùng chúng ta thắp sáng ngọn lửa văn chương, để xua đuổi sự tà tâm, để các dân tộc gần gũi yêu mến và quý trong nhau hơn. Đó là thứ mà như lời nhà văn Ấn Độ: chính trị khó làm được.

Được mời phát biểu cảm tưởng đầu tiên trong buổi lễ bế mạc chia tay, nhà văn Mỹ Kewin đã nói về quá trình đến với văn học Việt Nam . 40 năm trước ông đến Việt Nam trong tư cách của một người lính viễn chinh đến gây ra chiến tranh tại Việt Nam; cách đây 20 năm ông quay lại Việt Nam, dường như ông muốn tìm hiểu về đất nước con người Việt Nam, một đất nước mà đã buộc một đội quân hùng mạnh như Mỹ phải rút về nước. Ông đến với văn học, tìm cách giới thiệu văn học Việt Nam với độc giả Mỹ là cách để người Mỹ hiểu Việt Nam và ông muốn sử dụng văn học như một liều “thuốc giải độc” các mối quan hệ Việt Mỹ.

Cũng nói về những kỷ niệm về đất nước con người Việt Nam, nhà văn-dịch giả Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu đã thú vị kể lại: cách đây 40 năm lần đầu tiên ông đến Việt Nam với tư cách là một người học tiếng Việt; sau 40 năm ông đã trở thành một Giáo sư dạy tiếng Việt, trở thành người truyền bá văn học Việt Nam sang Trung Quốc. Cùng với tác phẩm Ông Cố vấn do ông dịch, ông đã biên soạn nhiều giáo trình về văn học Việt Nam . Sau 40 năm đến Việt Nam, Dịch giả Chúc Ngưỡng Tu phát hiện ra 3 sự thật: Nền Văn học Việt Nam là một nền văn học có giá trị và ngày càng phát triển đa dạng và phong phú; Đảng và Nhà nước Việt Nam rất coi trọng phát triển sự nghiệp văn học và sự thật thứ 3 là Việt Nam đã trở nên giàu có…

Chúc Ngưỡng Tu đã sử dụng một hình ảnh ẩn dụ: Đất trời Việt Nam hiện đang là mùa đông nhưng mùa xuân của nền văn học Việt Nam hình như đến sớm hơn; hội nghị này hy vọng đó là cột mốc, là tín hiệu mùa xuân của nền văn học Việt Nam đang tới gần.

Chúc Ngưỡng Tu cho biết ông có một đứa cháu đich tôn mà ông rất yêu quý, cháu ông sinh ra đúng ngày Quốc khánh của Việt Nam; bằng sự nghiệp dịch và gắn bó với nền văn học Việt Nam, ông hứa sẽ chăm sóc cho công việc này như là công việc hàng ngày của ông; công việc chăm sóc đứa cháu yêu úy của mình để tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Bị ngợp trước những lời nói xúc động, chân tình của nhà văn Mỹ và nhà văn Trung Quốc, nhà văn Thụy Điển Gustafsson đã cho biết: Cách đây 40 năm ông là một trong những thanh niên Thụy Điển hăng hái xuống đường để tuần hành ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam; suốt từ đó cho đến nay, ông không biết gì nhiều về Việt Nam ngoài cuộc chiến tranh. Gần 10 năm trở lại đây ông bắt đầu nhận ra ra nền văn học Việt Nam là một nền văn học có giá trị và có khả năng đóng góp làm giàu và phong phú cho đời sống tinh thần của nhân loại.

Nhà văn Constantin Lupeanu đến từ đất nước Romania cho biết: Ông vốn là Đại sứ Romania tại Việt Nam, nhiệm kỳ 2000-2004; trong nhiệm kỳ Đại sứ, ông đã bỏ thời gian nghiên cứu văn học Việt Nam và ông đã dịch 2 tác phẩm đó là Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thơ Hồ Xuân Hương; hai tập thơ này do ông biết tiếng Trung Quốc nên ông dịch thẳng từ chữ Hán và chữ Nôm. Hai tác phẩm này đã được xuất bản tại Romania .

Trong nhiệm kỳ Đại sứ của mình, ông đã chắp nối cho hai hội nhà văn Việt Nam và Romania trao đổi đoàn thăm lẫn nhau và thúc đẩy dịch và giới thiệu văn học của 2 nước; đã có 20 nhà văn Romania đến thăm Việt Nam và ngược lại…

Constantin Lupeanu cho rằng: Việc dịch và giới thiệu một nền văn học khác không chỉ quảng bá cho nền văn học đó mà chính là để làm giàu thêm cho đời sống tinh thần của đất nước tham gia dịch và giới thiệu. Ông đã có kế hoạch trong năm 2010  sẽ tổ chức dịch và xuất bản tại Romania một tuyển thơ trữ tình thế kỷ XX của Việt Nam .

Trong không khí phấn khích của đêm chia tay, ông chúc cho các nhà văn vừa có dịp đi thăm vịnh Hạ Long về, sẽ mang theo về quốc gia mình sức sống sức mạnh của rồng để giúp cho việc quảng bá nền văn học Việt Nam cất cánh ra với thế giới.

Nhà thơ Hữu Thỉnh và nhà văn Ấn Độ Sagar

Nhà văn Ấn Độ Mahatha Giriraj Sagar đã cho biết: Việt Nam và Ấn Độ trong quá khứ chưa bao giờ có xích mích và va chạm với nhau. Tuy nhiên hiện nay hai nền văn học, giới văn học hai nước ít hiểu nhau và dịch giới thiệu cho nhau. Ông hứa trong thời gian tới sẽ thúc đẩy việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam sang tiếng Hindi.

Trong quan hệ con người cũng như thế giới cần phải tăng cường hơn nữa tình yêu và tình hữu nghị; đó là điều mà chính trị không làm được mà chỉ có văn học mới có khả năng to lớn đó. Các nhà văn khác nhau về quốc tịch, màu da, ngôn ngữ nhưng có chung một ngôi nhà đó là ngôi nhà văn học.

Ông coi đất nước Việt Nam và nền văn học Việt Nam là ngôi nhà thứ hai của ông; tại diễn đàn, ông ngỏ lời mời các nhà văn Việt Nam và các nhà văn thế giới đến thăm đất nước Ấn Độ của ông. Hội Nhà văn Ấn Độ hứa sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ ngư giúp đỡ người nhà và cứ coi nhà của các nhà văn Ấn Độ như nhà của mình.

Cảm động và phấn khởi trước những lời nói chí tình, tâm huyết của các bạn văn quốc tế, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam , Trưởng Ban tổ chức hội nghị đã không sử dụng bài diễn văn chuẩn bị công phu. Nhà thơ Hữu Thỉnh cảm động nói: Trước những lời nói chí tình và tâm huyết với nền văn học Việt Nam của bạn bè quốc tế, từ đáy lòng ông không muốn nói lời chia tay, tạm biệt. Ông thay mặt các nhà văn Việt Nam cảm ơn các nhà văn quốc tế từ hàng vạn km đến đây mang đến cho giới văn học Việt nam những món quà vô cùng quý báu, đó là tình cảm chân thành, nồng hậu với nền văn học Việt Nam.

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Việt Nam, những lời nói của các bạn, sự đánh giá của các bạn thật sự là những món quà vô cùng quý báu trong ngày đầu xuân đối với các nhà văn Việt Nam.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã kết thúc phát biểu của mình bằng những điệp từ gửi tới các bạn văn quốc tế: Cảm ơn, cảm ơn và cảm ơn; Ghi nhớ, ghi nhớ và ghi nhớ…

Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ hai thật sự là một cuộc biểu dương lục lượng về sưc mạnh của văn chương, về khả năng đoàn kết giữa các dân tộc thông qua phương tiện văn chương. Ngày mai các nhà văn quốc tế sẽ trở về quốc gia họ và chắc họ sẽ không quên lời chúc của Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam: Ghi nhớ, ghi nhớ và ghi nhớ…

Nhà văn Phạm Viết Đào, nhà nghiên cứu Trung Quốc Hạ Lộ và nhà văn Lupeanu

Hẹn gặp lại lần sau và hy vọng Việt Nam sẽ trở thành điểm dừng chân, nơi tạo ngộ của khách văn từ khắp năm châu bốn biển. Đó chính là thành công ngoài dự kiến của những người tổ chức hội nghị quốc tế này.

Nhà văn Phạm Viết Đào và nhà nghiên cứu Thái Lan

Nhà thơ Nguyễn Duy và Dịch giả Hoài Dương

Nhà văn Lào và Dịch giả Sec

Dịch giả Ông Văn Tùng, Vũ Phong Tạo và Nguyễn Khắc Phi

Nhà văn Vũ Tiến Lộc ( Việt kiều Canada ) và nhà văn Phạm Viết Đào

Nhà văn Chúc Ngưỡng Tu và nhà văn Phạm Viết Đào

P.V.Đ

Phạm Viết Đào.

Mô tả ảnh.
Đại sứ Trung Quốc : Kinh nghiệm quý báu nhất rút ra trong tiến trình 60 năm quan hệ Trung – Việt đó là “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại”. Ảnh: Trường Sơn

AI ĐẤU TRANH; AI THẤT BẠI ?

CHÍN MUỒI RỒI CÁC CHÚ VIỆT NAM HÃY MANG “BÁT ĐĨA” RA; TRUNG QUỐC ĐANG ĐÓI VÀ KHỎE HƠN NÊN ĐỂ CÁC BÁC TRUNG QUỐC ” XƠI TÁI ” BIỂN ĐÔNG TRƯỚC XEM CÓ BỊ LÀM SAO ?!

QUẢ LÀ THÂM, THÂM, THÂM !

Trong cuộc tiếp xúc báo chí sáng ngày 6/1/2009, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã đưa ra một số thông điệp, bên cạnh nhưng ý kiến chung chung, mùi mẫn,  chúng tôi rất chú ý tới 3 thông điệp quan trọng mà Ngài Đại sứ thiên triều muốn thông tin với nhân dân và chính quyền Việt Nam; 3 thông điệp ngoại giao  đó là: “Tạm gác lại tranh chấp”; “ Nếu điều kiện chưa chín muồi”; “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại“…

Chúng tôi xin phép được lạm bàn, giải mã những ẩn ý đằng sau những thông điệp đậm màu sắc Trung Hoa này.

Thứ nhất: Khái niệm tạm gác tranh chấp; Trong hoạt động ngân hàng, tài chính có khái niệm “ khoanh nợ”, “khoanh vốn” để ứng phó với những điều bất trắc, rủi to bất ngờ gây thiệt hại cho các bên nhưng chưa có phương án cách thức giải quyết.

Trong hoạt động ngoại giao cũng có khái niệm này: khi một vấn đề nào đó mà 2 quốc gia chưa có cách gì giải quyết để hai bên khả dĩ có thể chấp nhận được, đành phải chọn phương thức “ gác lại”…

Trong quan hệ với Mỹ, hiện chúng ta cũng đang gác lại những chuyện về những hệ lụy của cuộc chiến kéo dài 30 năm mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam, để bắt tay xây những “công trình” ngoại giao mới vì lợi ích của hai nước.

Một sự kiện hay vấn đề ngoại giao nào đó khi đôi bên chấp nhận giải quyết sau phải với điều kiện: Vấn đề gác lại đó không có khả năng “ di căn “, lây lan làm “ viêm nhiễm ” những vùng miền khác của  của “ cơ thể” thì mới có thể gác lại. Còn như gác lại mà vấn đề nó cứ bị rỉ ra, cứ ngấm ngầm gieo bệnh thì đây là một hình thức ủ bệnh tai hại để căn bệnh tái phát, bùng nổ nguy hiểm hơn. Như vậy việc gác lại này trở nên nguy hiểm vì nó đe dọa nhiễm bệnh toàn thân, cơ thể chóng chết hơn…

Vấn đề ngoại giao mà Đại sứ quán Trung Quốc đề xuất hai bên cần gác lại đó là vấn đề Trung Quốc đang lấn chiếm nhiều vùng lãnh hải của Việt Nam trên biển Đông trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa ? Gác lại khác gì thừa nhận và để yên cho Trung Quốc lấn chiếm biên giới lành hải của quốc gia mình? Đây là vấn đề khác hoàn toàn với việc người Mỹ gieo tại họa ở Việt Nam, bị đánh bại và cuốn cờ về nước. Vì vậy nên người Mỹ khó lòng tác động trở lại Việt Nam, gây nên những biến cố chính trị nếu cố tình muốn sử dụng những vấn đề đã gác lại đó của quá khứ.

Còn vấn đề tranh chấp biển Đông thì khác hoàn toàn với các vấn đề được gác lại trong quan hệ Việt-Mỹ về các vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh. Khi người ta nói gác lại một vấn đề nào đó bao giờ cùng kèm theo định chế bảo hiểm, canh chừng. Khi đưa ra định chế gác lại bao giờ cũng phải kèm theo cam kết: Hai bên không có hành động gì để làm cho vấn đề trở nên phức tạp; hai bên cam kết không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực khi xảy ra các va chạm trên biển. Vế này thì ông Đại sứ lờ tịt, lại giấu biến.

Nếu cứ tin vào lời ông Đại sứ: Liệu ngư dân Quảng Ngãi thôi cất thuyền đi, khi nào hai bên đàm phán phân vùng biển xong rồi hãy ra khơi đánh cá. Trong khi đó thì tàu đánh cá Trung Quốc lại cứ ngang nhiên xâm phạm lãnh hải Việt Nam, hải quân Trung Quốc ra sức hiện đại hóa và thường xuyên tập trận, đe dọa…Ngư dân Việt Nam ra khơi chỗ nào cũng bị coi là xâm phạm lãnh hải Trung Quốc cả.

Ngay cả việc ngư dân Quãng Ngãi vào xin trú bão, bị hải quân Trung Quốc xua đuổi, ông Đại sứ cũng cứ chối bay, chối biến, nói đây không phải là cảng trú. Trong khi đó thì tàu nước khác vào được, chẳng nhẽ ngư dân Quảng Ngãi nhìn nhầm? Việc ngư dân Quảng Ngãi bị đánh, bị trấn mất điện thoại chẳng nhẽ họ vu oan cho phía Trung Quốc ?

Thành ra Ngài Đại sứ đề nghị cứ gác lại, trong khi Trung Quốc lại không gác, cứ lấn lướt hết việc này đến việc khác, nói thế mà nghe lọt tai được ư? Có mà lừa trẻ con ! Nói trắng ra, Đại sứ Tôn Quốc Cường đã khuyên Việt Nam nên gác vấn đề này lại để Trung Quốc ” độc chiếm” biển Đông một mình! Chà cao kiến hết chỗ nói…

Về thông điệp thứ hai: Nếu điều kiện chưa chín muồi; chữ chín muồi nghe rất ngon lành và mùi mẫn? Bao giờ thì chín muồi, đến khi Trung Quốc đóng xong các hạm đội, trang bị hoản hạo trang thiết bị chiến tranh trên biển rồi thì lúc đó hãy quay sang đàm phán, giải quyết phân vùng lãnh hải chăng? Câu nói của ông Đại sứ nghe có vẻ đầy trách nhiệm, thận trọng nhưng thực ra lại hết sức đáng ngờ vì nó ẩn chứa âm mưu ?

Việt Nam cứ kê cao gối mà ngủ trên bờ, Trung Quốc sẽ dọn sẵn xong thì mời Việt Nam đến dùng bữa chăng? Lúc đó Việt Nam họa chẳng chỉ còn đứng trên bờ mà khóc hời, khóc hỡi mà thôi…Thông điệp này khác gì bảo Việt Nam khoanh tay đứng nhìn để cho Trung Quốc một mình “múa tay trong bị” !

– Về thông điệp thứ 3: “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại “…

Về phương diện ngôn ngữ, chữ nghĩa thì động từ đấu tranh là hành động phản kháng của cá thể, thế lực nhỏ, yếu hơn phản kháng đối với thế lực lớn hơn chứ không bao giờ có chiều ngược lại.

Chỉ có thể nhân dân đấu tranh với chính quyền, nước nhỏ đấu tranh với nước lớn để bớt bị bắt nạt; bởi nếu chủ động phát động chiến tranh vì yếu hơn sẽ bị bất lợi nhiều hơn. Chả ai nói chính quyền đấu tranh với nhân dân, nước lớn đấu tranh với nước nhỏ và yếu hơn mình cả…

Đại sứ Tôn Quốc Tường tuyên bố như vậy chỉ có thể nhằm hàm ý hăm dọa Việt Nam; bởi chỉ có Việt Nam mới đấu tranh với Trung Quốc chứ Trung Quốc làm gì phải đấu tranh với Việt Nam? Nếu Trung Quốc quả thật phải sử dụng phương thức đấu tranh thay cho chiến tranh thì hóa ra trong quan hệ với Việt Nam , do Trung Quốc yếu thế, đang bị Việt Nam ăn hiếp, bắt nạt nên muốn tồn tại phải chọn phương thức đấu tranh ư?

Đại sứ Trung Quốc chỉ có thể nói thế này thì mới rành rẽ, mới lôgich: trong quan hệ với Việt Nam nếu Trung Quốc phát động chiến tranh xâm lược, ăn cướp thì Trung Quốc chẳng được lợi lộc gì mà chỉ có thể chuốc lấy thất bại; Ngược lại Việt Nam không cần lo nghĩ chuyện đấu tranh với Trung Quốc làm gì cho tổn thọ; Trung Quốc quang minh chính đại lắm, quân tử lắm…Sao ông Tôn Quốc Tường không dám ngửa bài như vậy ra…

Còn như Ngài nói Việt Nam mà đấu tranh Trung Quốc sẽ thất bại là Ngài đã nhầm rồi đấy. Việt Nam nếu không đấu tranh được thì sẵn sàng chiến đấu; cha ông chúng tôi đã từng làm như vậy. Gần đây, đối với người Pháp, người Mỹ, người Nhật, người Việt Nam đều chọn phương thức đó: Không đấu tranh được thì chiến đấu, đời cha không giành và bảo vệ được đất nước thì đời con, đời cháu; sẵn sàng đốt cả dãy Trường Sơn để bảo vệ độc lập cũng sẽ làm…

Là một công dân, tôi đề nghị Bộ Ngoại giao có Công hàm chính thức gửi Chính phủ Trung Quốc đề nghị triệu hồi ông Tôn Quốc Tường về nước, vì ông Đại sứ Tôn Quốc Tường này đã dám ngang nhiên và công khai đe đe dọa Việt Nam, đấy là việc làm trái với thông lệ của các quan chức ngoại giao, là láo ?!

P.V.Đ

Phạm Viết Đào.

Đầu năm 2006, Nhà xuất bản Random House của Mỹ chính thức ký hợp đồng với gia đình bà Doãn Ngọc Trâm đề nghị được dịch cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm sang tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ; ngoài xuất bản tại Mỹ; trong hợp đồng còn có điều khoản: Gia đình bà Doãn Ngọc Trâm ủy quyền xuất bản sang các thứ tiếng khác ở Tây Âu cho nhà xuất bản Random House…

Đây là lần đầu tiên, một cuốn sách của Việt Nam do nhà xuất bản trong nước in, không do một nhà văn viết, ra đời đã được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt và số phát hành đã lên tới hàng vạn bản. Chỉ sau nửa năm đã được đề nghị dịch ra 2 thứ tiếng đó là tiếng Romania và tiếng Anh.

Mặc dù báo chí trong nước ngay lập tức đã đưa tin này nhưng đầu năm 2006 Bộ Văn hóa-Thông tin vẫn ban hành quyết định giao cho Nhà xuất bản Thế giới ( trực thuộc Bộ ) dịch và xuất bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm bằng tiếng Anh, tin này đã được báo Tiền phong đưa.

Do việc gia đính bà Doãn Ngọc Trâm đã có thỏa thuận và đã ký hợp đồng với một nhà xuất bản Mỹ, việc dịch và xuất bản cuốn nhật ký, trước khi Bộ Văn hóa-Thông tin có chủ trương giao cho Nhà xuất bản Thế giới dịch và xuất bản, do vậy nên bà Doãn Ngọc Trâm đã viết thư cho Bộ Văn hóa-Thông tin. Bà Doãn Ngọc Trâm đã tỏ lời cảm ơn sự quan tâm của Bộ Văn hóa-Thông tin đối với cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm và đề nghị Bộ giành việc dịch và giới thiệu này cho một tác giả khác; đối với việc dịch và xuất bản cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm ra tiếng nước ngoài gia đình tự lo liệu được.

Bức thư này sau đó đã được báo Tiền phong đăng. Do có sự từ chối từ gia đình nên Bộ Văn hóa-Thông tin đã dừng việc triển khai việc dịch và xuất bản này.

Xin mở ngoặc, cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm trước khi ra mắt bạn đọc, gia đình đã gửi bản thảo tới một số nhà xuất bản có tên tuổi nhưng đã bị từ chối, Nhà xuất bản Hội Nhà văn là nhà xuất bản đứng ra cấp giấy phép in cuốn sách này và đã tạo nên một hiện tượng xuất bản: lượng sách phát hành lớn và được độc giả đón nhật nồng nhiệt.

Việc tiến hành chọn người dịch cuốn nhật ký sang tiếng Anh được Nhà xuất bản Random House tiến hành cẩn trọng; Nhà xuất bản này đã đề nghị một số dịch giả tiếng Anh trong đó có cả dịch giả trong nước dịch thử một vài chương để nhà xuất bản này lựa chọn. Cuối cùng Random House đã lựa chọn hai dịch giả, là hai bố con người Mỹ gốc Việt, vốn là người Hà Nội dịch cuốn nhật ký.

Hai vị này vốn là sĩ quan quân đội Sài Gòn và đã di tản sang Mỹ làm ăn. Trong thời gian ở Việt Nam sau 30/4, họ đã từng bị đưa vào trại cải tạo như bao sĩ quan quân đội Sài Gòn khác. Khi ký hợp đồng giao cho dịch giả này dịch Nhật ký Đặng Thùy Trâm sang tiếng Anh, Nhà xuất bản đã ký thêm một hợp đồng sẽ xuất bản cuốn hồi ký của dịch giả này kể lại những ngày ông ta sống trong trại cải tạo tại Việt Nam…

Cho đến nay, cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã được dịch và xuất bản tại Mỹ với đầu đề mới: Đêm qua tôi mơ thấy hòa bình, nhưng vẫn chưa thấy công bố xuất bản cuốn hồi ký này. Tôi đoán, khi ký hợp đồng dịch Nhật ký Đặng Thùy Trâm và công bố dự án về cuốn hồi ký đang viết, dịch giả này muốn giảm bớt áp lực từ phía các phần tử chống cộng cực đoan ở Mỹ. Ở Mỹ nếu ai bị vu cho việc hợp tác với Việt cộng hay bị coi là Việt cộng nằm vùng thì sẽ khó làm ăn, thậm chí nguy khốn. Do vậy, tôi đoán: việc dịch giả này công bố dự án này có lẽ để nhằm tránh bớt búa rìu từ phía các phần tử chống cộng cực đoan tại Mỹ và để cân bằng hai phía…

Thế nhưng tin về việc nhà xuất bản Random House giao cho một người từng có hận thù với chế độ cộng sản lập tức được một dịch giả người Mỹ phát hiện, nhà văn này lập tức viết thư cho các cơ quan chức năng Việt Nam. Trong thư nhà văn Mỹ này đã phân tích và chứng minh nguy cơ Việt Nam sẽ bị mất bản quyền nếu giao cho Random House xuất bản và cuốn nhật ký này nếu vào tay dịch giả vốn là phần tử chống cộng này dịch sẽ có nguy cơ nội dung bị xuyên tạc? Nhà văn này đề nghị Việt Nam nên giành lấy quyền xuất bản này vừa bảo vệ được bản quyền, vừa đảm bảo được nội dung không bị xuyên tạc, lợi dụng. Bức thư đã làm cho nhiều cơ quan chức năng quản lý xuất bản của Việt Nam đau đầu trước ý kiến góp ý quyết liệt, thẳng thắn và rắn về lập trường này .

Để giải quyết vụ việc này, Bộ Văn hóa-Thông tin đã tổ chức một cuộc họp mời các cơ quan chức năm đến bàn bạc, tham khảo ý kiến để đi đến quyết định cuối cùng đối với bức thư thiện chí có nội dung mang tính lập trường cứng rắn của nhà văn Mỹ.

Tôi là người được mời tham gia cuộc họp này. Tại hội nghị này, một số ý kiến tỏ ra lo lắng và đồng cảm với các ý kiến của nhà văn Mỹ kia, đề nghị Bộ Văn hóa-Thông tin tìm giải pháp để giữ lại quyền dịch và xuất bản cho Việt Nam. Có ý kiến còn hiến kế: để giải quyết vụ việc rắc rối này nên tổ chức một đoàn cựu chiến binh đến vận động gia đình bà Doãn Ngọc Trâm, hủy hợp đồng dịch và xuất bản sang tiếng Anh tại Mỹ để giành quyền đó cho một nhà xuất bản trong nước…

Qua một số ý kiến phát biểu, bên cạnh những ý kiến mang tính chất cảnh giác, lập trường ra, tôi còn nhận ra đằng sau đó còn có ý tranh giành được quyền thực hiện dự án, giành công ăn việc làm giống như việc người ta tranh giành nhau các dự án đấu thầu xây dựng khác…

Sau khi nghe một loạt ý kiến có gang có thép và bất lợi đối với việc dịch và xuất bản cuốn Nhật ký tại Mỹ, tôi đã xin phát biểu ý kiến của mình. Tôi cho rằng, cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm hay bất cứ một cuốn sách nào của Việt Nam được các nhà xuất bản nước ngoài dịch và xuất bản đều rất đáng hoan nghênh.

Tôi là một dịch giả văn học Romania, nhiều cuốn sách tôi dịch, phía Romania không chỉ hoan nghênh mà còn tài trợ bằng tiền và bằng các danh hiệu khen thưởng như Huân chương, bằng khen. Tôi cho rằng rằng, người ta dịch và giới thiệu cho mình sẽ tốt gấp nhiều lần so với việc mình dịch và xuất bản từ trong nước. Riêng đối với Nhật ký Đặng Thùy Trâm nếu được một nhà xuất Mỹ dịch và xuất bản thì giá trị tuyên truyền cho chủ nghĩa anh hùng của Việt Nam có sức thuyết phục lớn, chứ không bị chụp cho cái mũ “ tuyên truyền cộng sản “ nếu một nhà xuất bản trong nước dịch và xuất bản.

Còn việc nhà xuất bản Random House xuất bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm và còn xuất bản sách cho các tác giả chống cộng khác là chuyện của người ta; mình không nên định kiến, can thiệp giống như đối vơi một nhà xuất bản trong nước. Người ta dịch và xuất bản cho mình thế là quý rồi.

Ai đã có dịp qua các sứ quán ta ở nước ngoài sẽ thấy, rất nhiều sách báo tài liệu do trong nước mất công dịch và tiền cước gửi sang rồi cũng chỉ nằm ở các gầm cầu thang chứ không ra khỏi sứ quán. Vậy thì tại sao chúng ta lạ cản trở, ngăn cản việc này?

Mặt khác, Việt Nam đã tham gia Công ước bản quyền Berne-Thụy Sĩ, bản quyền của cuốn Nhật ký là của gia đình bà Doãn Ngọc Trâm; một quyền được pháp luật cam kết bảo hộ. Cuốn sách đã công khai xuất bản trong nước và được hoan nghênh, do vậy việc gia đình bà Doãn Ngọc Trâm ký với một nhà xuất bản nước ngoài cho phép dịch và xuất bản là việc làm trong khuôn khổ luật pháp bảo hộ, cho phép.

Bây giờ nếu chúng ta sử dụng quyền lực hành chính hay sức ép chính trị để buộc gia đình bà Doãn Ngọc Trâm phải hủy hợp đồng, vậy thì ai là người phải đền bù thiệt hại nếu như phía Nhà xuất bản Mỹ xử phạt vì đơn phương hủy hợp đồng; giống như trường hợp một huấn luyện viên bóng đá Pháp đã khởi kiện Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Để đền bù thiệt hại vì hủy hợp đồng này thì gia đình bà Doãn Ngọc Trâm chỉ còn nước bán nhà đi mà đền…

Sau khi phân tích một cách khách quan như trên, tôi kiến nghị hai giải pháp với Bộ Văn hóa-Thông tin:

1/ Nếu chúng ta thấy cần giữ bản quyền cho phía Việt Nam, sợ bị xuyên tạc, lợi dụng, Bộ Văn hóa-Thông tin đứng ra thương thảo với Nhà xuất bản Random House mua lại hợp đồng này để xuất bản trong nước. Không nên tiếp tục động viên, kêu gọi sự hy sinh từ phía gia đình liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trong vấn đề bản quyền này !

2/ Giao cho Cục Xuất bản tổ chức giám định bản dịch, nếu phát hiện bản dịch có những đoạn, câu giòng nào không trung thành với nguyên tác, thì Cục Xuất bản tác động với gia đình để đấu tranh với Nhà xuất bản, yêu cầu họ chỉnh sửa; nếu nhà xuất bản không chịu chỉnh sửa thì chúng ta sẽ sử dụng quyền bảo hộ tác quyền can thiệp bằng phương diện nhà nước đối với việc dịch và xuất bản này.

Sau khi nghe ngóng nhiều ý kiến, cuối cùng Bộ Văn hóa-Thông tin đã đi đến chủ trương không can thiệp vào việc dịch và xuất bản này của gia đình và đã giao cho Cục Xuất bản liên hệ với gia đình để bàn việc hợp tác cùng giám định chất lượng bản dịch…

Việc dịch và xuất bản cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ vấp phải trở ngại từ phía nhà văn Mỹ mà con gặp phải những chuyện rắc rối từ phía Trung Quốc. Khi báo chí đưa tin rầm rộ vệ chuyện cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm được nhiều nước dịch, một nhà ngoại giao Trung Quốc tại Việt Nam và một dịch giả Trung Quốc nhiều năm sống tại Hà Nội đến gặp gia đình bà Doãn Ngọc Trâm. Họ đề nghị quyền được dịch và xuất bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm sang tiếng Trung Quốc.

Bản dịch này do nhà ngoại giao này và vị dịch giả kia trực tiếp dịch. Điều rắc rối ở đây là: Họ không chỉ đề nghị xin quyền được dịch và xuất bản tại Trung Quốc mà họ còn đưa ra yêu sách rất ngang xương. Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh là nước ủng hộ rất nhiều Việt Nam, vậy đề nghị gia đình giành bản quyền dịch và xuất bản cuốn nhật ký ra các thứ tiếng nước ngoài cho một nhà xuất bản Trung Quốc. Trung Quốc cam kết sẽ thương thảo để mua bảm quyền theo giá thỏa thuận với gia đình. Không lý gì gia đình lại đồng ý cho một nhà xuất bản của một nước trước đây là kẻ thù của Việt Nam mà lại không quan tâm tới những người bạn từng giúp mình?

Trước những đề nghị mang tính yêu sách kể trên, gia đình bà Doãn Ngọc Trâm lại phải “vò đầu bứt tai” để tìm giải pháp làm sao để cân bằng quan hệ Đông-Tây; một nhiệm vụ chính trị quá sức đối với một bà già gần 90 tuổi với nghề nghiệp chuyên môn là nghề dược như bà Doãn Ngọc Trâm.

Cuối cùng thì gia đình bà Doãn Ngọc Trâm đã đi đến một giải pháp: Thương lượng với Nhà xuất bản Random House, đồng ý để một nhà xuất bản phía Trung Quốc xuất bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm mà không phải thương thảo hợp đồng với nhà xuất bản Mỹ. Gia đình không đồng ý nhượng bản quyền xuất bản ra tiếng nước ngoài cho phía Trung Quốc…

Hiện nay cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã được dịch và in ra 15 thứ tiếng, trong đó 12 thứ tiếng dịch qua bản tiếng Anh của Nhà xuất bản Random House; gia đình đã cho phép để Nhà Xuất bản Văn học dịch sang tiếng Lào và bản dịch ra tiếng Romania là 2 bản dịch trực tiếp từ tiếng Việt được gia đình bà Doãn Ngọc Trâm trực tiếp cho phép.

Ngoài 2 nước kể trên, việc xuất bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm tại Cu Ba cũng được gia đình cho phép không phải qua nhà xuất bản Random House.

Riêng đối với bản dịch tiếng Trung Quốc thì cho đến nay vẫn chưa thấy được công bố là đã được một nhà xuất bản nào in.

Qua vụ việc này cho thấy sự ngoan cường của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm; Chị không chỉ ngoan cường trong chiến trận, trong việc bao nhiêu năm lưu lạc trên đất Mỹ vẫn tìm được đường về quê mà cả trong việc: linh hồn của chị đã phải vượt qua bao khó khăn, chướng ngai để những suy nghĩ, khát vọng một cuộc sống không có chiến tranh của chị đến được với hàng triệu độc giả trên hành tinh…

P.V.Đ

Phạm Viết Đào dịch

Plutonierul Dorin Cârlan (stânga) şi sergentul major Octavian Gheorghiu arată locul de unde au tras

Thượng sĩ Dorin Cârlan (bên trái ) và Trung sĩ Octavian Gheorghiu đang chỉ nơi xử bắn vợ chồng ông Ceaussescu…

Phiên toà đặc biệt xét xử vợ chồng ông Ceausescu được tổ chức vào ngày 25/12/1989 vào lúc 12 h 50 phút tại Targoviste. Tướng Stanculescu đã vạch kế hoạch điều động trước đó một nhóm lính dù từ nơi khác đến để thực hiện việc xử bắn này. Việc xử bắn được tiến hành ngay tại bức tường bảo vệ của doanh trại quân đội nơi giam dữ vợ chồng ông Ceausescu.

Nhóm sĩ quan thực hiện lệnh xử bắn vợ chồng ông Ceausescu do Tướng  Victor Atanasie Stănculescu sắp xếp trước khi phiên toà được tổ chức. Tướng Stanculescu đã điều động 3 trong số 8 sĩ quan lính dù đến từ Boteni. Đó là đại uý Ionel Boeru, thượng sĩ Dorin Cârlan và trung sĩ Octavian Gheorghiu.

Vụ xử bắn được tiến hành gấp gáp. Đó là những giây phút vô cùng căng thẳng với sự giám sát của Tướng Nicolae Militaru ( vừa nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trước đó 2 ngày); ông ta đã gọi điện từ Bucureşti,  trực tiếp tới văn phòng chỉ huy của đơn vị UM 01417 Târgovişte,của đại tá Andrei Kemenici trong thời gian xử án. Nhóm lính dù dưới sự chỉ huy của Đại uý Boeru, họ đã bắn vợ chồng ông Ceausescu ngay lập tức mà không đợi lệnh nổ súng…

Đoạn đường hướng tới bức tường, địa điểm xử bắn là một đoạn đường khủng khiếp đối với những người được giao nhiệm vụ xử bắn vợ chồng ông Ceausescu. Họ buộc phải thực thi nhiệm vụ.

Đại uý Ionel Boeru kể lại:” Chúng tôi dẫn vợ chồng ông ta đến một góc của bức tường, đoạn đường chỉ khoảng 20 m nhưng mà sao dài thế. Tôi bị đẩy vào một tình huống bị kích động mạnh đến căng thẳng, Sự kinh hoàng, sự giận giữ, sự sốt ruột và cả nỗi sợ hãi và cả sự đau đớn khi dẫn vợ chồng ông Ceausescu đi trên đoạn đường 20 m đến chỗ bức tường. Tôi có cảm tưởng mình đang đi đến giá treo cổ và chính mình bị xử án…

Tôi chờ đợi bầu trời sụp xuống đầu tôi và đất sẽ nuốt chửng tôi. Tôi không nhìn thấy gì ngoài bức tường. Tôi có cảm giác bức tường đang đung đưa, đang lùi xa dần và đổ sập xuống. Tôi phải bắn chết họ, một suy nghĩ làm cho tôi cảm thấy mình bị tê liệt toàn thân, tôi sợ mình sẽ không làm chủ được thần kinh, trái tìm tôi sẽ nổ vỡ ra nếu như tôi không phải là kẻ mất trí…

Một người lính khác tham gia xử bắn đó là Thượng sĩ Dorin Cârlan, cũng tỏ ra sợ hãi khi được giao nhiệm vụ này:” Cùng với việc dẫn vợ chồng ông Ceausescu đến chỗ bức tường, tôi có cảm giác như đang có hàng trăm họng súng hướng về phía chúng tôi. Những họng súng này không chỉ hạ gục vợ chồng ông Ceausescu mà cả chính cả bản thân chúng tôi. Chúng tôi không thể lùi lại. Một người lính đã đến bên cạnh Elena Ceausescu nói một câu chua chát: Quỷ sẽ rước ông bà đi…

Một nhân khác được chứng kiến cảnh này, Thiếu tá Iulian Stoica, đã kể lại, chính ông ta cũng đã nghe thấy những câu nói này…

//

Những người lính dù được giao nhiệm vụ thực thi việc xử bắn vợ chồng ông Ceausescu theo phán quyết của Phiên toà đặc biệt này, sau 20 năm vẫn chưa nguôi quên những cảm giác kinh hoàng của thời khắc đó.

Đại uý Ionel Boeru chỉ nơi vợ chồng ông Ceauşescu bị bắn…

Đại uý Ionel Boeru  đã kể với Viorel Domenico, trong cuốn sách „ Sau xử bắn là tuyết rơi”: „ Khi tôi tiến gần tới bức tường, tôi đã đẩy ông Ceausescu sát bức tường, mặc dù tôi biết sau tôi còn trung sĩ Teodor Gheorghe đang dẫn Elena tới..

Tôi ngắm vào Nicolae và lùi lại mấy bước, tôi lấy lại cân bằng và nổ súng…”

Cũng chính Boeru đã nhớ lại, sau khi nổ súng, trong súng của anh ta còn lại một viên đạn. Tôi đã nói với đồng đội: « Súng nổ tự động và tôi đã bắn đến viên đạn cuối cùng. Tôi đã bắn 29 viên trên tổng số 30 viên. Viên đầu tiên vào chân, vào đùi sau đó vào ngực họ…”

Trong khi đó thì một người khác là Octavian Gheorghiu chỉ bắn có 1 loạt, Dorin Carlan chỉ bắn có mỗi một viên mặc dù họ được lệnh bắn hết đạn…

Dorin Cârlan nhớ lại: „ Sau khi đứng cách bức tường độ 2-3 bước, Ionel đã hô lên: Để họ đấy và nổ súng đi. Tôi là người nổ loạt đạn đầu tiên, loạt đạn rất gần, tôi lia từ dưới lên trên. Tôi đã nhìn thấy ông Ceausescu đã không đổ gục xuống ông ta đã vươn cao lên và sau đấy đổ gục xuống như một bao tải khoai tây…Còn Ionel thì bắn vào Elena, khi trúng viên đạn đầu tiên, anh ta còn nghe bà Elena kêu: A…a.aa một lúc sau mới ngã vật xuống…

Theo những người trực tiếp tham gia xử bắn thì khoảng 15 giờ mọi việc đã giải quyết xong.

Bộ óc của bà Elena Ceausescu, đã bị vỡ ra trên đường

Sau khi những người lính dù đã thực thi nhiệm vụ bắn những viên đạn cuối cùng, Mateescu còn kể lại một tình tiết ghê sợ: „ Một người lính khác ra khỏi phòng và hỏi tướng Stanculescu: Cho tôi bắn nữa nhé. Tướng Stanculescu trả lời: Cứ việc bắn. Người lính này đã bắn một loạt vào vợ chồng Ceausescu mặc dù họ chỉ còn là những cái xác bất động. Loạt đạn này đã làm vỡ nát óc bà Elena…Khi xác của vợ chồng ông Ceausescu được chuyển lên máy bay trực thăng, óc của bà Elena rơi tung toé. Lúc đó một con chó già của chúng tôi tên là Rex đã đánh hơi xông đến ngửi ngửi nhưng nó không ăn. Rex là một con chó rất to, màu đen và đẹp, lông ngắn. Lúc đó viên bác sĩ của doanh trại thu nhặt đầu đạn và những thỏi óc cho vào hộp đưa lên máy bay và không để lại gì cả…”

Bí mật về một đoạn phim có nhiều góc quay

Một trong những điều bí mật xảy ra trong ngày 25/12/1989 đó là đoạn phim quay cảnh phiên toà xét xử. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng. Người quay đoạn phim này là Đại tá Ion Baiu. Ông ta là một sĩ quan được tướng Stanculescu sử dụng vào việc giám sát phiên toà:„ Phim được quay nhanh, có dừng lại một vài đoạn vì tôi sợ hết mất phim. Tôi không nhớ quay được bao nhiêu thời gian. Tôi chỉ có mỗi một cuộn phim. Tôi chỉ quay một số cảnh chính ghi lại ai đã có mặt tại phiên toà. Nếu tôi biết được quay phim tôi sẽ mang theo một kỹ thuật và một thợ ánh sáng. Tôi đã không chuẩn bị trước…”

Sau khi họ đẫ đưa vợ chồng ông Ceausescu ra xử bắn, tôi đã quay cảnh này. Sau khi quay bên trong phòng xong tôi ra ngoài và tôi đã quay lại cảnh Ceausescu gục xuống…”

Đại uý Ion Boboc, là lính của doanh trại đã kể lại:„ Những người lính dù đã dẫn vợ chồng ông Ceausescu ra ngoài. Tôi được gọi đến tìm cho họ một ít giây cáp. Tôi chạy bổ đi tìm trong kho nhưng khi tôi mang giây cáp ra cho họ thì họ đã bắn gục vợ chồng ông Ceausescu rồi…”

Viên sĩ quan lái máy bay trực thăng chở tướng Stănculescu, đại uý Mircea Militaru,đã kể với Viorel Domenico trong cuốn sách „ Sau xử bắn là tuyết rơi”: „ Sau khi xử bắn là một không khí im ắng bao trùm. Không một tiếng động mà chỉ nghe tiếng động cơ máy may. Tôi chạy lại và liên hệ với nhóm sĩ quan trên máy bay và hỏi:” Có Chuyện gì xảy ra thế ?” Họ bảo: Chúng tôi đến đây giúp các anh đây! Các anh thu dọn mọi thứ dưới mặt đất đi, chúng tôi chuẩn bị ném bom đây. Tôi vội xoa dịu họ: các anh hãy bình tĩnh, mọi chuyện xong ngay thôi. Đừng cò làm gì cả nhé. Chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ, các anh bị tấn công à? Không không có chuyện gì xảy ra đâu. Các anh yên trí, mọi chuyện đều theo sắp đặt…

Đại tá Kemenici: „Tôi đã chứng kiến những chuyện khủng khiếp”

Sau khi xử bắn vợ chồng ông Ceausescu, họ đã liệm vợ chồng ông Ceaussescu bằng những chiếc chăn giành cho lính và chuẩn bị chuyển về Bucarest bằng máy bay trực thăng.

Vị chỉ huy đơn vị UM 01417, là Đại tá Andrei Kemenici, nhớ lại những khoảng khắc sau khi tiến hành xử bắn: „ Niềm vui ” Giải phóng ” này chỉ kéo dài độ 5 phút, sau đó tôi bị bao trùm bởi cảm giác kinh hoàng.

Sau khi xử bắn họ mang đi tất cả kể cả xác chết và không một ai quay lại bắt tay tôi và nói với tôi một câu là tôi đã làm một điều tốt hay là một điều xấu. Tất cả đã bỏ rơi tôi. Tất cả họ đều đã leo lên trực thăng và mọi thứ kết thúc…

Ngay cả Tướng Militaru, lúc đó là Bộ trưởng Bộ quốc phòng chỉ gọi điện cho tôi lúc đầu: đã xong chưa, ông ta cũng không nói với tôi rằng: Tôi đã làm việc tốt hay xấu…Tôi đã trả lời là họ đã làm xong và mang đi rôi. Ông ta lập tức dập máy điện thoại…Họ đã bỏ mặc tôi với những nỗi kinh hoàng lúc đó.

Sau 15 giờ sau khi họ lên máy bay trực thăng chở xác vợ chồng ông Ceausescu đi, nhiều vần đề trong doanh trại của tôi đã nảy sinh: Có ý kiến đồng tình, ủng hộ nhưng cũng có ý kiến không hài lòng thậm chí lên án những chuyện vừa xảy ra. Bầu không khí trong doanh trại mà tôi chỉ huy thật là căng thẳng khủng khiếp.

Tôi nhận ra rằng hình như Iliescu không biết Stanculécu đã làm gì ở Targoviste. Lúc đó tôi nghĩ có khi mình sẽ bị giết bởi Iliescu hoặc là người của Ceausescu…

„Kỷ niệm” của Đại uý Mateescu

Sau khi xử bắn xong vợ chồng ông Ceausescu và xác được chở đi., một số binh lính trong doanh trại đã kéo đến chỗ bức tường xử bắn…

Binh lính đã nhặt những đầu đạn rơi vãi làm kỷ niệm: Đây là đầu đạn đã xuyên qua 100 % người Ceausescu bởi vì nó có màu xám. Ceausescu mặc chiếc quần máu xám đen, một chiếc mũ màu xám. Bà Elena mặc bộ quần áo màu sáng.

generalul Victor Atanasie Stănculescu.

//

//

Phạm Viết Đào dịch

( Nguồn: Adevarul-Sự thật )

                                                             Hai Xe Ôm.

Báo Tuổi trẻ vừa đưa tin: “Ngày 11-12, Chánh văn phòng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi khẳng định lãnh đạo Bộ Tài chính gồm Bộ trưởng Vũ Văn Ninh và Thứ trưởng Trần Xuân Hà không hưởng lương kiêm nhiệm tại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

Ông Chi cho biết do SCIC chưa có báo cáo nên không biết lãnh đạo nào của SCIC được hưởng lương bao nhiêu, nhưng chắc chắn các thành viên hội đồng quản trị SCIC không nhận bất kỳ một khoản lương kiêm nhiệm nào. Theo ông Chi, khoản tiền duy nhất các thành viên HĐQT của SCIC nhận là khoản phụ cấp với mức khoảng 2 triệu đồng/tháng. Dẫn chứng nội dung này, ông Chi đưa ra bảng thống kê phụ cấp năm 2009 của Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, Thứ trưởng Trần Xuân Hà và hai thành viên khác gồm Thứ trưởng Bộ Kế hoạch – đầu tư Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào là 2,43 triệu đồng/tháng.

Về việc kiểm điểm trách nhiệm HĐQT, ban lãnh đạo SCIC, ông Nguyễn Đức Chi cho rằng phải để SCIC giải trình với các cơ quan cấp cao hơn xem cái nào đúng, cái nào sai mới có thể xác định trách nhiệm.”( 1 )

Điều uẩn khúc qua thông tin của Báo Tuổi trẻ đã đưa đó là: Ông Nguyễn Đức Chi Chánh Văn phòng Bộ Tài chính khi phát ngôn với báo chí tức là người đại diện cho Bộ Tài chính, cho Bộ trưởng Vũ Văn Ninh? Thế nhưng, những nội dung mà ông Nguyễn Đức Chi cung cấp cho báo Tuổi trẻ:” Về việc kiểm điểm trách nhiệm HĐQT, ban lãnh đạo SCIC, ông Nguyễn Đức Chi cho rằng phải để SCIC giải trình với các cơ quan cấp cao hơn xem cái nào đúng, cái nào sai mới có thể xác định trách nhiệm…” lại cho thấy hình như Bộ Tài chính, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh và cá nhân ông Nguyễn Đức Chi với chức trách Chánh văn phòng lại chưa nắm được chuyện trả lương cao tại công ty này nên đang còn phải chờ SCIS báo cáo ?

Theo các quy định pháp luật hiện hành về công tác kiểm toán, thứ nhất: khi Kiểm toán nhà nước có kết luận bao giờ cũng gửi văn bản cho Bộ Tài chính, chả nhẽ Bộ Tài chính chưa đọc; thứ 2: Bộ trưởng Vũ Văn Ninh lại kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị SCIS, chẳng nhẽ không nắm được chuyện trả lương cho cấp dưới?

Để giúp bạn đọc kiểm chứng ý kiến của ông Chánh văn phòng Bộ Tài chính phát biểu như trên đã chuẩn theo các quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005; chúng tôi xin trích một số điều có liên quan của bộ luật này:

Điều 108. Hội đồng quản trị
1. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
2. Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
h) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó;

Điều 110. Tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị
1. Thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;
b) Là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
2. Đối với công ty con là công ty mà Nhà nước sở hữu số cổ phần trên 50% vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị không được là người liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ.

Điều 111. Chủ tịch Hội đồng quản trị
1. Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.
2. Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;
b) Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập và chủ toạ cuộc họp Hội đồng quản trị;
c) Tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị;
d) Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị;
đ) Chủ toạ họp Đại hội đồng cổ đông;
e) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty;

Điều 117. Thù lao, tiền lương và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
1. Công ty có quyền trả thù lao, tiền lương cho thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác theo kết quả và hiệu quả kinh doanh.
2. Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì thù lao, tiền lương và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được trả theo quy định sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị được hưởng thù lao công việc và tiền thưởng. Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày. Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắc nhất trí. Tổng mức thù lao của Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên;
b) Thành viên Hội đồng quản trị có quyền được thanh toán các chi phí ăn, ở, đi lại và chi phí hợp lý khác mà họ chi trả khi thực hiện nhiệm vụ được giao;
c) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được trả lương và tiền thưởng. Tiền lương của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị quyết định.
3. Thù lao của thành viên Hội đồng quản trị và tiền lương của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác được tính vào chi phí kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và phải được thể hiện thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của công ty, phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

H.X.Ô

1/ http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=352800&ChannelID=3

SCIS LÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:

Lương chủ tịch, tổng giám đốc cao hay thấp?

TP – Một Thứ trưởng Bộ Tài chính đã nghỉ hưu, chuyển sang làm tổng giám đốc một DN nhà nước, riêng tiền lương đã lên tới 942 triệu đồng/năm. Còn Cty Cổ phần Jetstar (Nhà nước chiếm 70% cổ phần) làm ăn thua lỗ nhưng tổng giám đốc hưởng lương  trên 2 tỷ đồng một năm…

Câu chuyện lương của lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước có điều gì bất ổn? Tiền Phong đăng tải loạt bài xung quanh câu chuyện này.

Bài 1: Từ chuyện Tổng Giám đốc SCIC hưởng lương gần tỷ đồng/năm: Lương hay lậu?

Lương kỷ lục

Năm 2007, ông Trần Văn Tá, Thứ trưởng Bộ Tài chính được nghỉ hưu theo chế độ. Nhưng sau đó, ông lại không được nghỉ hưu mà được giao chức vụ Tổng giám đốc Tổng Cty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).

Trong một buổi tiếp nhận phần vốn Nhà nước tại 3 doanh nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT năm 2008, Tổng giám đốc SCIC Trần Văn Tá từng phát biểu đại ý, mặc dù đến tuổi nghỉ hưu nhưng ông vẫn chưa được nghỉ mà phải tiếp tục trọng trách được giao là quản lý một doanh nghiệp với mô hình mới với nhiều khó khăn, phức tạp.

Khi đó, có người bình luận, chắc phải tâm huyết lắm ông Tá mới nhận nhiệm vụ khó khăn  này. Nhưng qua kết quả kiểm toán vừa qua, nhiều người té ngửa, bởi mức lương mà ông Tá được nhận tới 942 triệu đồng/ năm, cao hơn 10 lần lương của tổng giám đốc, chủ tịch các tập đoàn kinh tế (lương tổng giám đốc tập đoàn chỉ từ 8,5 đến 8,8 x 650.000 đồng, khoảng 6 triệu đồng/tháng).

Vì sao ông Tá lại được trả lương cao như vậy?

Hệ số lương bình quân năm 2007 của SCIC chỉ là 2,82. Thế nhưng năm 2008, với lý do rất cảm tính là “do Tổng công ty tuyển dụng cán bộ có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ tốt, có kinh nghiệm trong công tác từ 5 – 10 năm, phẩm chất và năng lực phải đảm nhận các công việc khó, phức tạp, đòi hỏi trình độ của chuyên viên bậc cao”, nói tóm lại là do công việc tại SCIC “vất vả, phức tạp” nên doanh nghiệp này xin và được chấp nhận mức hệ số lương bình quân tăng đột biến lên tới 4,25.

Nhưng đến cuối năm 2008, hệ số lương bình quân của đơn vị này chỉ là 2,86 (bằng 50% hệ số kế hoạch).

Không chỉ xây dựng hệ số lương kế hoạch quá cao so với thực tế mà số lao động thực tế của SCIC cũng thấp hơn nhiều so với kế hoạch.

Lao động kế hoạch được HĐQT SCIC phê duyệt để xây dựng đơn giá tiền lương năm 2008 là 180 người. Nhưng số lao động làm việc thực tế chỉ 130 người, bằng 72% kế hoạch. 

Trụ sở Tổng Cty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) – Ảnh: Hồng Vĩnh

Do được hệ số lương cấp bậc bình quân cao, số người lao động làm việc thực tế thấp hơn nhiều so với lao động kế hoạch, nên SCIC được duyệt đơn giá tiền lương rất cao.

Đơn giá tiền lương năm 2008 của SCIC được Bộ LĐ-TB&XH duyệt là 10,38 đồng/1.000 đồng doanh thu. Có nghĩa là cứ làm ra 1.000 đồng thì doanh nghiệp này được 10,38 đồng tiền lương.

Theo phương án xây dựng của SCIC thì năm 2008 tổng quỹ lương của doanh nghiệp này là 21,9 tỷ đồng, bao gồm quỹ lương theo đơn giá 20,4 tỷ đồng, quỹ lương của HĐQT và tổng giám đốc hơn 1,47 tỷ đồng.

Điều đáng nói là, đến ngày 12-9-2008, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH mới chính thức phê duyệt đơn giá tiền lương.

Đây là thời điểm gần cuối năm 2008, Bộ LĐ-TB&XH hoàn toàn có thể biết được tất cả các chỉ tiêu về hệ số lương cấp bậc thực tế bình quân và số lao động thực tế tại SCIC thấp hơn rất nhiều so với kế hoạch của SCIC, nhưng Bộ này vẫn phê duyệt đơn giá tiền lương như SCIC xây dựng từ đầu năm, không kiểm tra thực tế trước khi phê duyệt.

Do quá tin tưởng vào SCIC nên khi kiểm tra, phê duyệt đơn giá tiền lương, Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&XH hầu như hoàn toàn dựa vào kế hoạch của SCIC trình.

Một cán bộ, hưởng hai lương

Quỹ tiền lương của HĐQT và Tổng giám đốc SCIC được Bộ LĐ-TB&XH duyệt là hơn 1,473 tỷ đồng, nhưng thực tế năm 2008 SCIC đã trả lương đối với các thành viên HĐQT chuyên trách và tổng giám đốc là trên 2,642 tỷ đồng, không tính các khoản thưởng và thu nhập khác, vượt quỹ lương so với kế hoạch gần 1,169 tỷ đồng.

HĐQT SCIC gồm 7 thành viên do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT. Phó Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc là ông Trần Văn Tá. Các ủy viên HĐQT kiêm nhiệm là Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà.

Hai thành viên chuyên trách HĐQT là ông Hoàng Nguyên Học- Phó Tổng giám đốc và ông Nguyễn Quốc Huy- Trưởng Ban Kiểm soát.

Khi xây dựng kế hoạch trình Bộ LĐ-TB&XH, SCIC dự tính sẽ trả lương thành viên HĐQT và tổng giám đốc là 40 triệu đồng/tháng. Nhưng thực tế năm 2008, lương của thành viên chuyên trách HĐQT và tổng giám đốc SCIC là 78,5 triệu đồng/tháng (tương đương 942 triệu đồng năm), gấp 1,96 lần so với kế hoạch.

Kiểm toán Nhà nước cho rằng, việc phân phối thu nhập tại SCIC còn bất cập, thu nhập của lãnh đạo cao hơn nhiều lần so với nhân viên, mặc dù lương của nhân viên tại đây cũng cao ngất ngưởng.

Thu nhập bình quân của các trưởng ban là 29 triệu đồng/tháng (tương đương 348 triệu đồng/năm). Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên là 12,4 triệu đồng/tháng (tương đương 148,8 triệu đồng/năm).

Ngoài ra, có những cán bộ tại SCIC còn được hưởng hai lương. Năm 2008, SCIC cử 18 người tham gia HĐQT và Ban kiểm soát tại các doanh nghiệp mà SCIC giữ phần vốn trong đó. Những nhân viên này đã được nhận lương của SCIC để làm nhiệm vụ này.

Tuy nhiên, 11 trong số 18 cán bộ này lại được nhận thêm thù lao từ các doanh nghiệp mà mình làm đại diện của SCIC, với tổng số tiền 949 triệu đồng.

Số tiền thù lao này cũng được sử dụng không giống ai. SCIC có cơ chế phân phối số tiền này là 60% (451 triệu) nộp vào quỹ công đoàn, 40%  còn lại (497 triệu) cho người tham gia kiêm nhiệm.

Tuy nhiên, đoàn kiểm toán cho rằng, việc một cá nhân ăn lương của SCIC lại nhận thêm thù lao, phụ cấp của doanh nghiệp mình đại diện phần vốn là không có cơ sở và yêu cầu thu hồi số tiền đã nộp vào quỹ công đoàn của SCIC là 451 triệu đồng.

Với những ưu ái của Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&XH, SCIC đã được phê duyệt một đơn giá tiền lương quá cao. Đoàn kiểm toán Nhà nước đã xác định giảm quỹ lương của SCIC đã hạch toán vào chi phí năm 2008 là 3,8 tỷ đồng.

Tính toán lại theo đúng quy định nhà nước, Kiểm toán Nhà nước cho rằng, đơn giá tiền lương năm 2008 của SCIC chỉ có 8,26 đồng/1.000 đồng. Như vậy để thấy, hai Bộ Tài chính và LĐ-TB&XH đã trả lương cho lãnh đạo và nhân viên SCIC quá mức mà những cán bộ này đáng được hưởng.

Kiểm toán Nhà nước đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo HĐQT, Ban Tổng giám đốc SCIC kiểm điểm làm rõ trách nhiệm trong việc xây dựng đơn giá tiền lương, quyết toán và phân phối tiền lương.  

———————

( Còn nữa )

Nhóm PV.

( Nguồn: Tienphongonlin

Phạm Viết Đào.

https://i0.wp.com/www.pctnbinhthuan.gov.vn/images/news/NT%20SSSng%20HHH%C2%BAu.bmp

Vừa qua dư luận báo chí đưa tim rầm rộ về vụ án bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông trường Sông Hậu bị kết án về tội: Lập quỹ trái phép, bị kết án 8 năm tù; dư luận báo chí đã lan ra xã hội và làm nóng cả các cơ quan chức năng, buộc một số vị cũng đã phải vào cuộc bày tỏ chính kiến của mình như: Thủ tướng nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng, Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, một vài quan chức và một số đại biểu Quốc hội, Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

https://i1.wp.com/hoaphuongdo.vn/news/images/stories/hoaphuongdo/tintucdulich/2008/12/18.jpg

Điều làm cho chúng tôi băn khoăn đối với các ý kiến trái chiều đó là: phần lớn đều là những ý kiến chung chung, rất không ít ý kiến có thể coi là lơ tơ mơ, “nói lồi” theo kiểu dân Nghệ, trong đó kể cả ý kiến của các luật sư. Một số ý kiến chỉ căn cứ vào luật pháp nói chung mà không căn cứ vào luật pháp hiện hành quy định về việc thu chi tài chính để làm sáng tỏ dư luận, giúp các cơ quan chức năng làm đúng phận sự mà lại kích nổ, đổ thêm lửa vào dầu, thách đố quyền lực của nhau….

Gây nên sự om xòm có một phần do bởi các phóng viên báo chí do không nắm chắc, nặng về thông tin, đưa chuyện hơn là suy xét, phán xét làm sáng tỏ vấn đề theo nguyên lý: cờ ngoài bài trong. Xảy ra tình trạng này là do không nắm vững, không dựa vào các cơ sở, căn cứ pháp lý chuyên ngành để tư vấn cho dư luận. Hiện nay các báo đều có các phóng viên chuyên trách có kiến thức, bằng cấp không chỉ luật pháp mà cả kinh tế nhưng lại không làm cho vấn đề được soi tỏ…

Vấn đề đặt ra trước tiên đối với vụ án Ba Sương là bà có tội hay không có tội? Yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt chỉ là vấn đề phụ trong vụ án này; có giảm nhẹ thì cũng chỉ giảm nhẹ 1/3 năm bị tù theo khung hình phạt chứ không thể miễn tố, xóa án nếu có tội thật. Khi nói đến sai hay bất công thì phải căn cứ sai với cái gì, và bất công với trường hợp nào?

Điều làm cho tôi băn khoăn: Bà Trần Ngọc Sương có can tội lập quỹ trái phép không, tại sao lại phải lập quỹ trái phép khi mà những khoản chi theo như thông tin nhiều báo đã đưa Bà Sương đều có quyền  được sử dụng quỹ hợp pháp để chi theo như các quy định của Nghị định 199/2004/ND-CP  ngày 3/12/2004 là thời gian bà Ba Sương đang tại nhiệm?

Theo quy định của Nghị định 199 thì Nông trường Sông Hậu là một doanh nghiệp nhà nước, do đó được phép trích quỹ phúc lợi rút từ lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh. Với khoản tiền mà bản án đã kết tội cho Bà Sương là đã chi sai 4,3 tỷ đồng là một khoản tiền không lớn đối với doanh thu và lợi nhuận của một doanh nghiệp như Nông trường Sông Hậu?

Một doanh nghiệp như nông trường sông Hậu,có những hợp đồng  buôn bán có khi lên tới hàng trăm triệu USD thì quỹ phúc lợi phải lên đến hàng chục tỷ đồng, như vậy nguồn chi cho phúc lợi của bà Ba Sương là rất lớn, là dồi dào, cần gì phải thêm quỹ trái phép? Hay là bà Ba Sương đã chi hết quỹ phúc lợi rồi còn cho lập thêm khoản  quỹ khác để chi?

Đây là vấn đề các cơ quan tố tụng, các luật sư và cả bà bà Ba Sương phải căn cứ vào các quy định của Nghị định 199 để xem xét có tội hay không tội, có lập quỹ trái phép hay được phép?

Tại mục 4 của Điều 28 Nghị định 199 quy định về Quỹ phúc lợi được dùng để:

a) Đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của công ty;

b) Chi cho các hoạt động phúc lợi công cộng của tập thể công nhân viên công ty, phúc lợi xã hội;

c) Góp một phần vốn để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành, hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng;

d) Ngoài ra có thể sử dụng một phần quỹ phúc lợi để trợ cấp khó khăn đột xuất cho những người lao động kể cả những trường hợp về hưu, về mất sức, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, hoặc làm công tác từ thiện xã hội.

Việc sử dụng quỹ phúc lợi do Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc (đối với công ty không có Hội đồng quản trị) quyết định sau khi tham khảo ý kiến của công đoàn công ty.

5. Quỹ thưởng Ban điều hành công ty được sử dụng để thưởng cho Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc công ty. Mức thưởng do đại diện chủ sở hữu quyết định gắn với hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty đối với công ty không có Hội đồng quản trị.

6. Việc sử dụng các quỹ nói trên phải thực hiện công khai theo quy chế công khai tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở và quy định của Nhà nước.

7. Công ty chỉ được chi các quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty sau khi thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.

Như vậy các khoản chi của Nông trường Sông Hậu là có nguồn chi hợp pháp, chả nhẽ được phép lập nguồn và được phép lập quỹ để chi thế mà bà Ba Sương và bộ máy kế toán ở đây lại: đường quan không đi lại quàng vô bụi rậm;

Theo quy định tại điều 23 của Nghị định 199, bà Ba Sương còn được phép đưa vào Chi phí hoạt động kinh doanh các khoản chi sau đây được quy định tại mục: d) Kinh phí bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế cho người lao động mà công ty phải nộp theo quy định và mục đ) Chi phí giao dịch, môi giới, tiếp khách, tiếp thị, xúc tiến thương mại, quảng cáo, hội họp tính theo chi phí thực tế phát sinh.

Một vấn đề đặt ra ở đây là: Tại sao Nông trường Sông Hậu và bà Ba Sương đều được phong anh hùng lao động thời đổi mới khi đang tại nhiệm; trong bất kỳ một bộ hồ sơ đề nghị phong anh hùng đối với các doanh nghiệp và các doanh nhân bao giờ cũng có sự xác nhận về hoạt động tài chính của bản thân người anh hùng và đơn vị anh hùng của các cơ quan chức năng tài chính?

Vậy nếu căn cứ pháp luật hiện hành truy cứu trách nhiệm hình sự bà Ba Sương can tội lập quỹ trái phép để chi sai nguyên tắc trong thời kỳ đang tại nhiệm, chứ không phải sau khi đã được phong anh hùng, điều này có nghĩa: việc phong anh hùng trước kia là sai, chứ không thể nói là bắn đại bác vào quá khứ; những cán nhân liên quan tới việc phong này đều phải truy cứu trách nhiệm hình sự vì đã lập nên một bản thành tích ảo, lừa nhà nước trong việc phong tặng này ?

Ngược lại nếu việc phong tặng anh hùng là xứng đáng thì việc kết án bà Trần Ngọc Sương là lệch chuẩn chế độ, là trái pháp luật? Không thể nói: Việc phong anh hùng không sai và việc kết án bà Trần Ngọc Sương là đúng pháp luật được ! Ở đây các cơ quan chức năng chỉ được phép lựa chọn 1 trong hai đáp án kể trên ?!

Ông Nguyễn Tấn Quyên và ông Huỳnh Văn Tiếp. Ảnh: Cao Nhật

Mới đây, các cơ quan công tố thành phố Cần Thơ khởi tố thêm tội danh tham ô tài sản quy định tại Điều 278 của Bộ luật hình sự đối với bà Trần Ngọc Sương: có hành vi lấy tiền nông trường sử dụng cá nhân trên 1,1 tỷ đồng, gồm 301 triệu đồng mua đất ở Sóc Trăng và 850.000.000 đồng giải quyết việc cá nhân…

Quả thật đây là những chuyện khó hiểu trong vụ án này? Chả nhẽ bà Ba Sương ấu trĩ và kém về nghiệp vụ quản lý tới mức tự mình ký chi cho mình các khoản lên tới hàng tỷ đồng lưu giữ trên sổ sách ?

Trong khi đó có những giám đốc doanh nghiệp có tài sản riêng lên tới hàng trăm tỷ đồng nhưng các cơ quan chức năng vào kiểm tra sổ sách kế toán chỉ thấy những vị này ký nhận có mỗi lương ?

Đây là một vấn đề, căn bệnh thuộc tính cơ chế? Hiện nay theo cơ chế lương thưởng hiện hành, kể cả những vị được hưởng phủ cấp trách nhiệm trên 10 phẩy cũng khó lòng có đủ tiền xây nhà, nuôi con ăn học cho ra trò? Trong thực tế thì rất nhiều Giám đốc doanh nghiệp vừa có nhà riêng lại có biệt thự sân vườn, lại gửi con ra nước ngoài, lại có nhà cho bồ nhí ? Vậy tiền ở đâu ra?

Qua vụ án bà ba Sương cho thấy không hiếm trường hợp: Còn mèo ăn vụng miếng mỡ thì bị nghiêm trị, con hổ vồ cả con bò thì vô can.

Trong trường hợp bà Ba Sương, nếu quả thật khoản tiền 4,3 tỷ kia là sai thật và vô túi của bà Ba Sương và cả khoản tiền bà bị kết về tham ô trong cáo trạng bổ sung thì đó là một khoản tiền không lớn, nếu không nói là tối thiểu phải được hưởng so với vị trí của một người đứng đầu một doanh nghiệp đang ăn nên làm ra như nông trường Sông Hậu trong bối cảnh xã hội hiện nay ?

Tất nhiên luật pháp là luật pháp, khi hẩu và vui vẻ với nhau thì không sao, khi cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, sòng phẳng với nhau thì đều có cơ sở pháp lý để tống giam nhau. Đó là một thực tế sản sinh do cơ chế điều hành kinh tế của chúng ta hiện nay được mệnh danh là: cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…

Vừa qua việc UBND TP Hà Nội vừa thống nhất ý kiến của Văn phòng Quốc hội, chấp thuận dự án xây 227 căn nhà phục vụ cán bộ cấp Thứ trưởng và tương đương hiện công tác trong các cơ quan của Quốc hội. Đây là một quyết định dựa vào quyền lực hành chính để ban hành chứ không theo một quy định luật pháp nào. Bởi vì theo Luật Công chức thì công chức nhà nước chỉ được hưởng lương, phụ cấp trách nhiệm và phương tiện công vụ như xe hơi chứ làm gì có quy định từ cấp thứ trưởng trở lên sẽ được cấp nhà?

Còn cho rằng hiện các doanh nghiệp cò nhà biệt thự xe hơi, để công chức cấp cao yên tâm cống hiến cho nhà nước, để mà tích cực chống tham nhũng thì cần đảm bảo nhà ở đàng hoàng; cách đặt vấn đề như vậy vẫn là cách đặt vấn đề theo ” lý của người Mèo “…

Bởi vì năm 1992, Thủ tướng đã ban hành quyết định 118, chấm dứt tình trạng bao cấp nhà ở. Quyết định này cũng đưa chế độ tiền nhà ở vào tiền lương bằng các mức phụ cấp khác nhau vào rồi còn gỉ?


Nhà cho cán bộ Quốc hội cấp Thứ trưởng và tương đương được xây tại “Đơn vị ở số 3″ khu đô thị mới Xuân Phương  với tổng mức đầu tư 411 tỷ đồng

Thêm một ví dụ thứ hai: Ngày 11/1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định (số 09/2008/QĐ-TTg) quy định nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ:

“Nhà ở công vụ được thiết kế theo 3 dạng: Nhà biệt thự, nhà chung cư và nhà một tầng (căn hộ) nhiều gian. Nhà biệt thự được thiết kế theo kiểu biệt thự đơn lập hoặc song lập, tối đa không quá 3 tầng, diện tích đất khuôn viên từ 350 m2 – 500 m2.

Tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ được quy định tương ứng với từng nhóm chức danh. Ví dụ, biệt thự loại A được bố trí cho các Ủy viên Bộ Chính trị, loại B được bố trí cho các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 10,4 trở lên”.

Chiểu theo quy định này, khi những chủ nhân ở nhà công vụ khi miễn nhiệm thì nghiễm nhiên phải trả nhà ví đó là nhà công vụ; trong thực tế thì rất nhiều vị đã nghỉ hưu, đã qua cố nhưng con cháu vẫn tiếp tục sử dụng nhà công vụ. Trong khi đó theo Luật đất đai và các quy định hiện hành thì tiêu chuẩn đất cấp phép xây nhà cho 1 hộ ở nội thành Hà Nội không quá 120 m2.

Mai đây nếu có một vị Thủ tướng mới khác lên, chơi rắn như các cơ quan tư pháp tại thành phố Cần Thơ; ông ta sẽ lập luận rằng: Đây là nhà, đất cấp cho công vụ, bây giờ các cố đã về thế giới bên kia rồi nên miễn thôi cho các vị không phải làm công chức, công vụ nữa, xin các vị trả lại đất cho nhà nước cho thanh thảvu?

Nêu thế thì rất nhiều vị sẽ phải trả nhà vì đó là nhà công vụ chứ không phải là nhà riêng, tư dinh. Kể cả 227 căn hộ cấp cho các thứ trưởng kia cũng sẽ bị thu hồi vì không luật pháp nào quy định, cho phép…

Hiện theo thông tin mà tôi nắm được một số vị còn được cấp đất xây nhà trên 350 m2 để xây nhà riêng. Xin tư vấn cho các vị, khi xây nhà nên lưu giữ cẩn thận các chứng từ, hoá đơn tài chính liên quan tới các khoản chi cho làm nhà để đề phòng mai đây nhỡ có một ông Thủ tướng nào đó giở luật ra: yêu cầu trả lại đất lại đất cho nhá nước; vì đây là đất để xây nhà công vụ chứ không phải tư dinh.

Do vậy, căn cứ vào luật pháp hiện hành của tại thời điểm xây nhà, nhà các vị đã xây thì Chính phủ mới sẽ thanh toán theo giá gốc có phụ thêm phần lãi suất ngân hành? Nếu không có hoá đơn tài chính thì các vị sẽ lôi thôi nếu chiểu theo luật pháp hiện hành và cả sau này ?

Nêu hai ví dụ này để thấy trong cơ chế quản lý kinh tế xã hội của chúng ta còn tồn tại nhiều điểm cập kênh, bất cập; chính đó là khoảng trống để cho tham ô, tham nhũng và sự tác oai tác quái của quyền lực…

Qua vụ án Trần Ngọc Sương cho thấy hình như đã xuất hiện trận tuyến giữa một bên là báo chí với một số quan chức của các cơ quan trung ương và bên kia là các cơ quan quyền lực của thành phố Cần Thơ ? Vậy đất nước ta đang ở thời kỳ ” tiền Tam Quốc ” hay ” hậu Tam Quốc” đây ?

Vụ án Trần Ngọc Sương liệu có là “khối u” của cơ chế mà không sớm thì muộn, không chỗ này thì chỗ kia cũng sẽ bục vỡ ra bởi trong cơ chế này mỗi con người đôi khi vừa là nạn nhân là đồng thời là thủ phạm…

Để kết thúc bài viết này chúng tôi xin mượn bài từ được đề tựa cho bộ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa để suy ngẫm về thế sự hiện nay qua vụ án Nông trường Sông Hậu:

Hậu Giang cuồn cuộn chảy về đông

Sóng dập dồn đãi hết anh hùng

Được thua, phải trái thoắt về không
Non xanh nguyên vẻ cũ

Bóng độ xuống tàn hồng

Bạn đầu bạc ngư tiều ven bãi

Mảnh trăng thanh gió hát, vui chơi

Gặp nhau hồ rượu đầy vơi

Xưa nay bao nhiêu việc

Phó mặc cuộc nói cười…

https://i2.wp.com/www.va21.org/pictures/20041130115313.jpg

P.V.Đ

Đăng bởi: phamvietdaonv | 20.11.2009

Phúc Lộc Thọ.

Tại các phiên chất vấn tại diễn đàn Quốc hội lần này, xin lỗi bạn đọc vì Phúc Lộc Thọ tôi đang bận một số công việc riêng, không theo dõi được thường xuyên các phiên họp của Quốc hội thành ra không kịp thời có các bài bình cập nhật ngõ hầu góp vui với bà con cư dân mạng…

Mặc dù vậy khi đọc lướt qua các mạng, P.L.T tôi rất chi là ấn tượng với câu trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn, đó là câu:” Khó chấm dứt chạy chức quyền vì người chạy có báo đâu”; đây là một câu trả lời chất vấn có thể nói là khá ngộ, tại một diễn đàn nghiêm túc, bàn chuyện quốc gia đại sự chứ không phải chuyện đùa chơi. Đó là nạn chạy chức chạy quyền trong hệ thống quan chức của chế độ…

Trong giao tiếp hàng ngày dân Nghệ hay sử dụng cách “ nói lồi ” để nhằm gỡ thế bí cho đôi bên đối thoại khi giao tiếp; nói lồi thường xảy ra trong trường hợp khi người trả lời chưa muốn trả lời nghiêm túc với người đối thoại một vấn đề gì đó; nếu trả lời thẳng thừng thì sẽ làm cụt hứng, mất lòng, mất mặt người đối thoại có thể dẫn đến sứt mẻ, tuyệt giao nên người Nghệ chọn cách “ nói lồi” để vẫn né tránh điều mà đối tượng đối thoại đang muốn nghe, mà vẫn giữ được quan hệ thâm giao…

Vậy nói lồi của dân Nghệ nghĩa là gì? Chúng tôi mong các nhà Nghệ ngữ chú giải thêm về thuật ngữ này. Về phía mình, P.L.T xin giải thích vắn tắn như sau. Nói lồi thường là một dạng nói trạng, những câu nói vô thưởng, vô phạt, vui, hóm, thông minh đột xuất do vậy nên thường làm cho người đối thoại với mình phải bật cười, bỏ qua.

Do bởi sự vui vẻ ngẫu hứng của câu nói lồi mang lại mà người đối thoại sao nhãng chuyển điều định hỏi, định tìm hiểu sang chuyện khác, bỏ qua cho người đối thoại phải trả lời câu mà mình có ý định tìm hiểu; do vậy nên bớt được căng thẳng thậm chí tránh được sứt mẻ trong quan hệ…

Trong kho tàng các câu chuyện dân gian xứ Nghệ, có rất nhiều chuyện nói lồi thú vị, chuyện thường xảy ra đối đáp giữa dân và quan, giữa bố và con giữa vợ và chồng…

Câu trả lời của Bộ trưởng Trần Văn Tuấn tại diễn đàn Quốc hội kỳ này đúng là kiểu cách nói lồi của dân Nghệ; mặc dù theo như P.L.T tôi được biết ông không sinh ra và lớn lên ở Nghệ An; từ đâu ông học được cách nói lồi của dân Nghệ thì việc này chỉ có ông mới biết…

Với kiểu cách giải trình theo kiểu nói lồi như Bộ trưởng Trần Văn Tuấn thì rõ ràng ông Bộ trưởng đã lẩn tránh được ngon lành trách nhiệm cá nhân của cá nhân ông và cái guồng máy tổ chức mà ông là quan chức đứng đầu.

Như chúng ta biết, guồng máy quan chức là bộ máy chịu trách nhiệm hết thảy trước mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi quốc gia, sinh mệnh dân tộc. Nó là tố chất kết cấu tạo dựng nên guồng máy, ngôi nhà chế độ; vậy khi cái ngôi nhà này không dựa vào năng lực và khả năng gánh vác, chịu đựng tải trọng trách nhiệm đích thực: đó là năng lực chuyên môn, thực tài công v, uy tín cá nhân, phẩm cách công chức mà lại dựa vào tài quan hệ chạy chọt, sự xiên xẹo của đồng tiền thì đó là ngôi nhà ảo…

Khi bị truy trách nhiệm, ông Bộ trưởng chọn cách nói lồi, nói cho qua chuyện: Người chạy người ta có báo đâu để biết mà tránh, mà chống, mà quản lý, mà hạn chế ?

Với kiểu cách trả lời chất vấn này thì rồi những cơn bão, lũ, động đất gây ra thảm hoạ nó cũng đời nào chịu báo trước cho ai đâu; nhà máy điện hạt nhân có xảy ra sự cố nó cũng có báo trước đâu; rồi các hồ chứa bùn đỏ trong các dự án bauxite gây ra sự cố nó cũng có báo đâu…

Cái mà ông BT nhận trách nhiệm phải là đương sự báo cho ông biết, kẻ đi chạy chức chạy quyền chủ động báo cho Bộ Nội vụ biết họ đang chạy, nếu BT Bộ Nội vụ không ngăn được thì mới phải chịu trách nhiệm; còn ai đó dự báo cảnh, báo thì quên đi, không phải chuyện của ông…

Cán bộ là rường cột của quốc gia, là lương đống của chế độ;  hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì quốc gia hưng, nguyên khí suy kiệt thì xã tắc quốc gia thảm bại, đó là định đề chả nhẽ không ai nhắc cho ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn biết để ông không trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội theo kiểu nói lồi của dân Nghệ…

Trả lời theo kiểu nói lồi như BT Trần Văn Tuấn, dân Nghệ gọi là “quân trơ trơ, tráo tráo“; dịch ra tiếng bắc có nghĩa: giở ông, giở thằng

Bà con dân Nghệ nào có nhớ chuyện nói lồi nào hay hay kể lại vài chuyện góp vui với…

P.L.T.

Mặc dù vậy khi đọc lướt qua các mạng, P.L.T tôi rất chi là ấn tượng với câu trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn, đó là câu:” Khó chấm dứt chạy chức quyền vì người chạy có báo đâu”; đây là một câu trả lời chất vấn có thể nói là khá ngộ, tại một diễn đàn nghiêm túc, bàn chuyện quốc gia đại sự chứ không phải chuyện đùa chơi. Đó là nạn chạy chức chạy quyền trong hệ thống quan chức của chế độ…

Trong giao tiếp hàng ngày dân Nghệ hay sử dụng cách “ nói lồi ” để nhằm gỡ thế bí cho đôi bên đối thoại khi giao tiếp; nói lồi thường xảy ra trong trường hợp khi người trả lời chưa muốn trả lời nghiêm túc với người đối thoại một vấn đề gì đó; nếu trả lời thẳng thừng thì sẽ làm cụt hứng, mất lòng, mất mặt người đối thoại có thể dẫn đến sứt mẻ, tuyệt giao nên người Nghệ chọn cách “ nói lồi” để vẫn né tránh điều mà đối tượng đối thoại đang muốn nghe, mà vẫn giữ được quan hệ thâm giao…

Vậy nói lồi của dân Nghệ nghĩa là gì? Chúng tôi mong các nhà Nghệ ngữ chú giải thêm về thuật ngữ này. Về phía mình, P.L.T xin giải thích vắn tắn như sau. Nói lồi thường là một dạng nói trạng, những câu nói vô thưởng, vô phạt, vui, hóm, thông minh đột xuất do vậy nên thường làm cho người đối thoại với mình phải bật cười, bỏ qua.

Do bởi sự vui vẻ ngẫu hứng của câu nói lồi mang lại mà người đối thoại sao nhãng chuyển điều định hỏi, định tìm hiểu sang chuyện khác, bỏ qua cho người đối thoại phải trả lời câu mà mình có ý định tìm hiểu; do vậy nên bớt được căng thẳng thậm chí tránh được sứt mẻ trong quan hệ…

Trong kho tàng các câu chuyện dân gian xứ Nghệ, có rất nhiều chuyện nói lồi thú vị, chuyện thường xảy ra đối đáp giữa dân và quan, giữa bố và con giữa vợ và chồng…

Câu trả lời của Bộ trưởng Trần Văn Tuấn tại diễn đàn Quốc hội kỳ này đúng là kiểu cách nói lồi của dân Nghệ; mặc dù theo như P.L.T tôi được biết ông không sinh ra và lớn lên ở Nghệ An; từ đâu ông học được cách nói lồi của dân Nghệ thì việc này chỉ có ông mới biết…

Với kiểu cách giải trình theo kiểu nói lồi như Bộ trưởng Trần Văn Tuấn thì rõ ràng ông Bộ trưởng đã lẩn tránh được ngon lành trách nhiệm cá nhân của cá nhân ông và cái guồng máy tổ chức mà ông là quan chức đứng đầu.

Như chúng ta biết, guồng máy quan chức là bộ máy chịu trách nhiệm hết thảy trước mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi quốc gia, sinh mệnh dân tộc. Nó là tố chất kết cấu tạo dựng nên guồng máy, ngôi nhà chế độ; vậy khi cái ngôi nhà này không dựa vào năng lực và khả năng gánh vác, chịu đựng tải trọng trách nhiệm đích thực: đó là năng lực chuyên môn, thực tài công v, uy tín cá nhân, phẩm cách công chức mà lại dựa vào tài quan hệ chạy chọt, sự xiên xẹo của đồng tiền thì đó là ngôi nhà ảo…

Khi bị truy trách nhiệm, ông Bộ trưởng chọn cách nói lồi, nói cho qua chuyện: Người chạy người ta có báo đâu để biết mà tránh, mà chống, mà quản lý, mà hạn chế ?

Với kiểu cách trả lời chất vấn này thì rồi những cơn bão, lũ, động đất gây ra thảm hoạ nó cũng đời nào chịu báo trước cho ai đâu; nhà máy điện hạt nhân có xảy ra sự cố nó cũng có báo trước đâu; rồi các hồ chứa bùn đỏ trong các dự án bauxite gây ra sự cố nó cũng có báo đâu…

Cái mà ông BT nhận trách nhiệm phải là đương sự báo cho ông biết, kẻ đi chạy chức chạy quyền chủ động báo cho Bộ Nội vụ biết họ đang chạy, nếu BT Bộ Nội vụ không ngăn được thì mới phải chịu trách nhiệm; còn ai đó dự báo cảnh, báo thì quên đi, không phải chuyện của ông…

Cán bộ là rường cột của quốc gia, là lương đống của chế độ;  hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì quốc gia hưng, nguyên khí suy kiệt thì xã tắc quốc gia thảm bại, đó là định đề chả nhẽ không ai nhắc cho ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn biết để ông không trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội theo kiểu nói lồi của dân Nghệ…

Trả lời theo kiểu nói lồi như BT Trần Văn Tuấn, dân Nghệ gọi là “quân trơ trơ, tráo tráo“; dịch ra tiếng bắc có nghĩa: giở ông, giở thằng

Bà con dân Nghệ nào có nhớ chuyện nói lồi nào hay hay kể lại vài chuyện góp vui với…

P.L.T.

Đăng bởi: phamvietdaonv | 10.11.2009

Giải mã bí ẩn Bãi đá cổ Sa Pa

15:34:00 10/11/2009, cập nhật cách đây 2 phút
Gần nửa thế kỷ qua, có một nhà nghiên cứu đã dành trọn tâm huyết để đi tìm lời giải cho những bí ẩn của Bãi đá cổ Sa Pa. Những ký tự, những hình vẽ được khắc sâu vào đá, một thời từng được cho là “tử ngữ” giờ đã bắt đầu có lời giải. Và điều bất ngờ là ông đã tìm ra mối liên hệ chặt chẽ giữa những ký tự này và nền văn hóa huy hoàng một thời – Văn hóa Đông Sơn.

Vốn không phải là người nghiên cứu chuyên về Bãi đá cổ Sa Pa, công việc mà GS Lê Trọng Khánh dành cả đời để theo đuổi đó là nghiên cứu về chữ Việt cổ. Bắt đầu từ năm 1986, ông đã cho công bố nhiều công trình nghiên cứu của mình trong đó phải kể đến cuốn sách “Sự hình thành và phát triển của chữ Việt cổ”. Khi đó, công trình nghiên cứu này được dư luận đặc biệt quan tâm và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như Nga, Pháp…

Cũng vì nghiên cứu về chữ Việt cổ, nên một tư liệu đặc biệt như Bãi đá cổ Sa Pa đã thu hút được sự quan tâm hàng đầu của ông. Những ngày mới bắt tay vào nghiên cứu, ông gần như trở thành một người dân của Sa Pa. Dọc theo thung lũng Mường Khoa từ xã Tả Văn đến Lý Xeo Chải, nơi có những khối đá lớn những hình thù kỳ lạ in sâu vào đá, ông thuộc như lòng bàn tay.

Vốn là giáo viên dạy sử của trường Đại học Tổng hợp (cũ), ông được tiếp xúc nhiều với các hiện vật khảo cổ. Rồi ông nhận ra rằng, trên những chiếc rìu đồng, ấn đồng hay trống đồng đều có những ký tự giống hệt với những ký tự in trên vách đá ở Sa Pa. Chính phát hiện này đã mở đường cho các công trình nghiên cứu sau này của ông. Những hình họa trên vách đá ở Sa Pa và trên các hiện vật đồng Đông Sơn còn được so sánh, đối chiếu để tìm sự logic với chữ Thái cổ, những văn tự “thắt gút” của người Chăm Hre ở Nghĩa Bình…

Kết quả mà ông thu được nằm ngoài dự kiến, ông đã tìm ra rằng, ở Bãi đá cổ Sa Pa có 2 loại chữ viết. Một là chữ đồ họa, các chữ đồ họa thường miêu tả cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược cùng những hoạt động lớn của xã hội lúc bấy giờ.

Điểm đặc biệt nhất của Bãi đá cổ Sa Pa mà không phải ai cũng biết, trong số 200 bản đá có khắc “hình thù kỳ lạ” thì có duy nhất một bản không khắc hình mà thay vào đó là những ký tự. Bản này được GS Lê Trọng Khánh phát hiện từ hơn chục năm trước. Bản đá có chữ này tuy không còn nguyên vẹn, do thời gian bào mòn, nhưng vẫn còn dịch được đại ý là “Ông cha đã xây dựng đất nước, con cháu muôn đời sau phải giữ gìn đất nước”.

Những hình đồ họa trên Bãi đá cổ Sa Pa.

 

Cũng từ đây, GS Lê Trọng Khánh khẳng định, những bản đá này thuộc văn hóa Gò Mun, khoảng đầu thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên, thời kỳ hình thành nhà nước Văn Lang. Gò Mun là thời kỳ tiền Đông Sơn. Khi đó, những người Việt cổ đã từng đánh bại quân xâm lược rất mạnh từ phương Bắc tràn xuống. Trên các bản khắc đá Sa Pa còn có hình mái nhà cong như trên trống đồng Đông Sơn loại 1.

Ông khẳng định, từ bản khắc Sa Pa lên tới trống đồng Đông Sơn là bước phát triển từ thấp đến cao. Hơn nữa, sơ đồ hình người ở Bãi đá cổ Sa Pa tương đồng với người trên rìu lưỡi xéo Đông Sơn.

Cho tới thời điểm hiện tại, GS Lê Trọng Khánh gần như là người mở đường cho việc nghiên cứu chữ viết cổ. Trước ông, ở Việt Nam gần như chưa có tiền lệ về việc nghiên cứu chữ viết cổ. GS Lê Trọng Khánh đã chọn thời kỳ Hùng Vương là sự khởi đầu cho quá trình nghiên cứu chữ Việt cổ.

Vào khoảng những năm 1970, ông đã có hàng loạt bài báo, công bố về các công trình nghiên cứu của mình trên báo chí. Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, ông mới có đủ tư liệu để chứng minh một cách rõ ràng nhất. Hiện công trình thứ 2 của ông về chữ viết cổ với tên gọi “Phát hiện chữ viết khoa đẩu Văn hóa Đông Sơn” đang hoàn thiện và sẽ phát hành trong nay mai.

GS Lê Trọng Khánh và bản dập chữ viết duy nhất ở Bãi đá cổ Sa Pa.

 

Tròn 85 tuổi, Giáo sư Lê Trọng Khánh không thể đi đi về về giữa Hà Nội và Sa Pa như thời trai trẻ nữa. Nhưng thay vào đó, ông đã tìm được cho mình một “trợ lý” rất hợp ý. Mỗi khi ông cần thêm tư liệu gì từ Sa Pa, người cháu nội ông – hiện đang là sinh viên Đại học Bách khoa lại đi tàu từ Hà Nội lên để tìm cho bằng được. Tuổi trẻ, có kiến thức cộng thêm việc sử dụng những công nghệ lưu trữ hiện đại, những tài liệu mà cháu nội mang về luôn khiến ông ưng ý.

Sự nhiệt tình của cháu nội cũng là nguồn động lực để ông cố gắng vượt lên bệnh tật và tuổi già hoàn thành công trình nghiên cứu chữ viết Đông Sơn mà theo lời ông “đó là công trình cuối cùng”.

Cuốn sách mà ông đang ấp ủ phát hành cũng đang được nhiều NXB ngấp nghé. Ông bảo, đây là công trình tâm huyết của cả đời ông. Ông nghiên cứu không vì danh lợi, mà chỉ để góp phần khẳng định, nền văn minh từng phát triển rất sớm của dân tộc ta. Đồng thời lưu lại cho con cháu đời sau những tư liệu quý về nguồn cội, về địa danh chủ quyền của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam

Theo An ninh Thủ đô
Đăng bởi: phamvietdaonv | 07.11.2009

GS Phạm Duy Hiển: Điện hạt nhân rất kén người!

 – Nhắc đến vụ Chernobyl, đôi mắt GS Phạm Duy Hiển đượm buồn. Còn nhớ, ông đã từng nói trên một tờ báo mạng, thảm họa Chernobyl là một nỗi ám ảnh nặng nề. Nó là đêm hôm trước của một thể chế sụp đổ vì để cho xã hội xuống cấp khiến kỷ cương trong một ngành công nghiệp như điện hạt nhân không còn được đặt lên vị trí hàng đầu. GS Phạm Duy Hiển bắt đầu cuộc trò chuyện với phóng viên Bee: “Nhiều năm làm việc trong ngành hạt nhân ở Liên Xô, dù có khi nghĩ tới khả năng xảy ra sự cố, nhưng chúng tôi vẫn luôn tin mọi sự sẽ tốt đẹp. Vì thế sự cố Chernobyl làm tôi hoàn toàn bị sốc. Với các nhà máy điện hạt nhân thế hệ III ngày nay, xác suất xảy ra sự cố do lỗi kỹ thuật nhỏ hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hàng loạt các nguyên nhân khác do tắc trách, bất cẩn, coi thường luật lệ và quy chuẩn kỹ thuật, thậm chí do khủng bố, vẫn có thể dẫn tới sự cố ở nhiều cấp độ khác nhau”. Việt Nam làm điện hạt nhân bằng cách… tổ chức hội thảo “Còn lâu ta mới đạt được trình độ như họ lúc ấy”. Ảnh: Huấn Cao Liên Xô khi đó gần như là nơi đào tạo hàng đầu về năng lượng nguyên tử? Tôi đã từng đi nhiều nơi trên thế giới, nghiên cứu khoa học trong nhiều điều kiện khác nhau, nhưng tôi chưa bao giờ có được “thiên đường khoa học” như thời ấy: Đại học Lomonosov đào tạo về hạt nhân rất bài bản, thầy giáo là những chuyên gia hàng đầu thế giới, phòng thí nghiệm hiện đại, điều kiện sinh hoạt tốt… Thời ấy người ta làm điện hạt nhân như thế. Chắc chắn còn lâu ta mới đạt được trình độ như họ lúc ấy. So sánh với điều kiện đào tạo của thế hệ các nhà khoa học hạt nhân Việt Nam bây giờ thì thế nào, thưa Giáo sư? Những thế hệ sau này không có điều kiện như chúng tôi hồi đó. Giờ đây cuộc sống đòi hỏi nhiều thứ khiến nhà khoa học khó toàn tâm toàn ý vào nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên nghiệp của mình. Quan sát một học trò bảo vệ luận án tiến sĩ, tôi phải nói ngay trước hội đồng chấm luận án: nếu tôi có trẻ lại, cũng xin chịu, không dám theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học được. Theo dự thảo đầu tư về điện hạt nhân của Chính phủ, đến năm 2020, chúng ta phải có một đội ngũ nhân lực đáp ứng việc vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Tiếp sau đó sẽ là một loạt các nhà máy khác? Nếu thực hiện đúng như dự thảo thì đến năm 2025, Việt Nam sẽ trở thành một trong 15 nước hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực hạt nhân. Thật khó tưởng tượng! Vì nhìn quanh quất, tôi không thấy có mấy ai thật sự là chuyên gia như những người tôi đã từng gặp ở các nước có điện hạt nhân. Trong 10 năm qua, chúng ta làm điện hạt nhân bằng cách nào? Ít hôm Tivi lại đưa tin một hội thảo do các hãng điện hạt nhân nước ngoài tổ chức, mời giới khoa học đến ngồi chung với các nhà báo. Làm điện hạt nhân kiểu đó làm sao có được chuyên gia. Chuyên gia là phải tự học, phải lăn lộn suốt ngày với công việc chuyên môn, máy móc thiết bị, phải thường xuyên làm việc với các đồng nghiệp quốc tế. Nhiều khi lại phải sống trong “tháp ngà” để tu luyện. Chọn học về hạt nhân để nghiên cứu những cái nhỏ nhất Ngày xưa, Giáo sư được phân công học ngành Năng lượng nguyên tử hay tự chọn học ngành này? Năm 1959, 22 tuổi, tôi được sang Liên Xô học nghiên cứu sinh. Lúc đó, tôi đã dạy ĐH được 2 năm, môn Thiên văn học, môn học về thế giới vô cùng lớn. Khi sang Liên Xô, tôi đã quyết định học thế giới vô cùng bé, là hạt nhân nguyên tử. Vô cùng lớn và vô cùng bé đều là một thế giới thống nhất. Trong vô cùng lớn có cái vô cùng bé. Nghiên cứu cái vô cùng bé để hiểu những cái vô cùng lớn. Hồi đó, tôi cũng bị ảnh hưởng bởi ánh hào quang của khoa học kỹ thuật Liên Xô: Năm 1954 họ có nhà máy điện nguyên tử đầu tiên, năm 1957, phóng vệ tinh đầu tiên… Vì vậy, khi được lựa chọn, tôi đã chọn ngành học hiện đại nhất. Có phải đó là thời kỳ rất lãng mạn, đẹp đẽ của trí thức Việt Nam? ( Còn thời nay thanh niên không theo học ngành Vật lý nguyên tử vì sợ ra trường sẽ thất nghiệp). Thế hệ của chúng tôi hồi đó là như vậy. Không biết lo âu, một ít lãng mạn, nhưng chỉ mơ ước trong điều kiện có thể để ước mơ biến thành hiện thực. Thời đó chúng tôi hay hát bài “Đồi Lenin”: Bạn ơi đi với tôi Lên đỉnh núi khi trời chiều Đỉnh non của Lenin lòng chan chứa tình yêu Bạn ơi ta ngó sang thành Mạc Tư Khoa kia tuyệt vời… Nghĩ về Liên xô như một giấc mơ đẹp như vậy cho nên tôi bỗng thấy như mơ khi được báo là sang Liên xô học. Từ nhà tranh vách đất ở khu tập thể giành cho giáo viên Đại học Sư phạm bỗng được làm chủ một căn phòng đầy đủ tiện nghi trong tòa tháp trên đỉnh đồi Lenin, ngày nào tôicũng đứng trước cửa sổ “ngó sang thành Mạc Tư Khoa kia tuyệt vời.”… “Thế hệ chúng tôi có sự lãng mạn như vậy”. Ảnh: Huấn Cao Khi trở về, Giáo sư có phát huy được hết những kiến thức đã học không ạ? Sau 50 năm nhìn lại, tôi thấy không có gì để phàn nàn. Tôi trở về năm 1963, làm việc ở miền Bắc rồi năm 1977 vào xây dựng cơ sở nghiên cứu ở Đà Lạt. Mỹ rút đi để lại cho mình nhà lò, vỏ lò bằng bê tông, còn bên trong nó sau đó phải làm mới hoàn toàn. Đó là bước đầu tiên trong việc đưa năng lượng nguyên tử vào Việt Nam. Tôi chỉ tiếc rằng, lẽ ra nơi đây phải là cái nôi để còn có nhiều người xuất chúng hơn nữa, và được nhà nước sử dụng làm nòng cốt cho chương trình điện hạt nhân hiện nay. Giáo sư cũng đã có một thời gian dài làm chuyên gia cho nước ngoài? Tôi đi làm chuyên gia cho Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế chủ yếu để tranh thủ học hỏi thêm, để hiểu các nước trong vùng từ đó có sự so sánh với nước mình. Thực tế trong suốt 50 năm qua, lúc nào tôi cũng học, không bao giờ rời sách vở, có nghiên cứu thêm một số lĩnh vực khác, nhưng không bao giờ rời ngành hạt nhân. Nghe nói thời đó, Giáo sư và nhiều nhà khoa học khác thường gặp gỡ, trò chuyện với các vị lãnh đạo Nhà nước? Tôi có một kỷ niệm thế này. Năm 1994, tôi đi làm chuyên gia cho chương trình hạt nhân của 16 nước Châu Á – Thái Bình Dương có trụ sở tại Indonesia. Tôi bay từ miền Nam, sau đó vài tháng có ghé qua Hà Nội và đến thăm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lúc đó đã chuyển sang làm cố vấn. Ông hỏi: Sao anh đi mà không báo cho tôi biết? Tôi đáp vì đi gấp quá nên không báo kịp. Ông nói: Tôi nghe nói anh đi, và biết anh sang Indonesia chứ không phải sang Vienna. Như thế là tôi yên tâm. Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu hết câu nói đó có ý gì. Ngoài Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tôi cũng có nhiều dịp làm việc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Tố Hữu, thời đó đều là lãnh đạo Chính phủ. Còn thời nay ạ? Tôi ít khi có may mắn được gặp các vị lãnh đạo. Có lẽ là vì hiện nay có quá nhiều nhà khoa học! Với những vấn đề mới và khó như điện hạt nhân, việc lãnh đạo lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học quả thật rất cần thiết? Khi biết tin Mỹ làm bom nguyên tử, Stalin đã gọi hai nhà khoa học lớn nhất Liên Xô bấy giờ là Viện sỹ Ioffe (vật lý) và Vernadski (hóa học) vào giữa đêm để hỏi chuyện. Stalin định giao cho hai nhà khoa học này chủ trì nghiên cứu về vũ khí hạt nhân nhưng cả hai đều từ chối vì tự nhận không phải chuyên gia trong chuyên ngành này. Stalin hỏi: Vậy ai là chuyên gia? Ioffe nói không ai hơn Kurchatov, anh ta hiện đang đi dò mìn ở biển Baltic. Stalin đã ra lệnh gọi Kurchatov về để trở thành người lãnh đạo ngành hạt nhân ở Liên Xô… Thiếu nhân lực về điện hạt nhân trên toàn thế giới Sau vụ Chernobyl, toàn bộ ngành năng lượng nguyên tử trên toàn thế giới bước vào giai đoạn thoái trào. Bởi lẽ, vụ Chernobyl xảy ra chỉ 8 năm sau vụ tan chảy hạt nhân tại nhà máy hạt nhân Three Mile Island, Mỹ. Sau vụ đó, Mỹ không xây thêm nhà máy điện nào cả. Một loạt các nước khác cũng không tiếp tục thực hiện các dự án nhà máy điện hạt nhân, đặc biệt là các nước Bắc Âu. Đến thời Tổng thống Bush, Mỹ bắt đầu muốn phát triển điện hạt nhân trở lại nhưng cũng chưa có bước tiến gì mới. Nước Anh cũng có chủ trương đó từ thời Tony Blair nhưng chưa có tổ chức nào đứng ra làm. Sự thoái trào xảy ra sau vụ Chernobyl dẫn đến thiếu nhân lực trên toàn thế giới. Không chỉ Việt Nam thiếu nhân lực mà ngay những nước có thể cung cấp lò phản ứng cho Việt Nam sau này như Mỹ, Pháp… cũng thiếu nhân lực. GS Phạm Duy Hiển

Lương Bích Ngọc – Hoàng Hạnh

 Nguồn: http://bee.net.vn/channel/1988/200911/GS-Pham-Duy-Hien-Dien-hat-nhan-rat-ken-nguoi-1727822/

Đăng bởi: phamvietdaonv | 06.11.2009

GẦN NỬA TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY LÀM ĂN THUA LỖ

Khoảng 45,05% trong số 8 tập đoàn và trên 100 tổng công ty Nhà nước có hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, chưa phát huy được các lợi thế vượt trội từ sự quan tâm đầu tư và ưu đãi nhiều mặt…

Theo “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gửi tới các đại biểu Quốc hội, nhiều tập đoàn, tổng công ty đang gặp khó khăn với những khoản nợ gấp nhiều lần số vốn.

Trong số này, không ít đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ vào vốn vay ngân hàng, vốn chiếm dụng, cơ cấu tài chính lại không hợp lý, dẫn đến rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu nên khả năng thanh toán không đảm bảo.

Tính đến 31/12/2008, một số đơn vị có tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10 lần) là Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 1 với 21,6 lần; Tổng công ty Lắp máy Việt Nam với 17,4 lần; Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 với 14 lần; Tổng công ty Xây dựng Công nghiệp VN với 12,9 lần, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin) với 10,9 lần…

Báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng cho biết, tính đến 31/12/2008, tổng nợ tổ chức tín dụng của 7 tập đoàn gồm Dầu khí, Than khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp tàu thủy, Điện lực, Bưu chính Viễn thông, không tính tập đoàn Bảo Việt) là 128.786 tỷ đồng, tăng 20,54% so với cuối 2007 và chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế tại cùng thời điểm. Một số đơn vị có nợ lớn là Tập đoàn điện lực Việt Nam với 66.764 tỷ đồng, chiếm 51,84% tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn. Tiếp đến là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với 21.477 tỷ đồng, chiếm 16,67%; Tập đoàn Vinashin nợ 19.885 tỷ đồng, chiếm 15,44%.

Báo cáo cho biết, đây chủ yếu là nợ trung và dài hạn, phục vụ cho các dự án đầu tư mang tính chiều sâu và các kế hoạch phát triển. Tổng nợ quá hạn của 7 tập đoàn đến 31/12/2008 là 4.168 tỷ đồng, chiếm 3,24% tổng dư nợ của các tập đoàn tại các tổ chức tín dụng. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn. Tập đoàn Vinashin có số nợ quá hạn là 3.812 tỷ đồng, chiếm 19,17% dư nợ của tập đoàn và chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất một số giải pháp điều chỉnh hoạt động đầu tư tràn lan ở một số đơn vị, nhất là việc sử dụng vốn Nhà nước vào những lĩnh vực rủi ro khi không có nhân lực thích hợp, gây thất thoát vốn… Thường vụ cũng kiến nghị xử lý dứt điểm các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, trong đó làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân, không để vốn đầu tư của Nhà nước tiếp tục bị thất thoát.

Hồng Anh

( Nguồn: Vinexpress )

Rất nhiều người đã thử: Có tiếng vỗ tay hoặc gọi là nước tại mó nước Rằng Phặt dâng lên, không cứ gì phải đọc đúng “tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi…” bằng tiếng Nùng, tức là: Hễ có sự cộng hưởng âm thanh, là nước tuôn ra.

 
“Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi. Rằng Phặt!…” 
 
Chuyện khó tin nhưng có thật. Ở xã miền núi Hồng Quang, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, có một mó (mỏ, hố, vũng, giếng) nước khiến bà con và khách vãng lai từng có mặt đều vô cùng sửng sốt: dù cạn khô kiệt quệ, nhưng, hễ người Nùng sống quanh mó nước mà đọc “thần chú”, vỗ tay nhè nhẹ là nước từ trong khe cứ thế dâng lên. Chứa chan.

Nằm cách thị trấn miền rừng Quảng Uyên gần 20km, mó nước Rằng Phặt, từ nhiều đời đã được nhuộm đẫm bao nhiêu là huyền thoại. Ai là người đầu tiên kể câu chuyện ly kỳ đó, thật khó đoán định; câu chuyện đó có thật hay không, càng khó đưa ra câu trả lời “cưa đứt đục suốt”.

 
Song, có một điều chắc chắn rằng: bất kỳ người dân nào ở xã Hồng Quang, dù nam phụ lão ấu, cơ bản, ai cũng biết câu chuyện ly kỳ và sự thật ngỡ ngàng về mó nước Rằng Phặt. Ai cũng đọc được câu thần chú gọi nước dâng lên.

Thú thật, kể từ khi bà con Quảng Uyên và các nhà báo ở Cao Bằng điện báo rồi rủ tôi đi điền dã để “thực mực sở thị” những điều quanh mó nước lạ, đã 500 ngày trôi qua, lúc nào tôi cũng có cảm giác mơ hồ, ngài ngại.

Anh Đàm Văn Trình, người tổ chức chuyến đi, là cán bộ của Đài Phát thanh – Truyền hình Cao Bằng, quê gốc nằm ở cách mó nước Rằng Phặt trên 7km, người mà với tư cách nhà báo, đã mục sở thị cái “mó nước biết vâng lời người” từ lâu; lại thêm, vừa đến Ủy ban đã thấy cả Bí thư, cả Chủ tịch UBND xã trịnh trọng ra thề thốt: sẽ đích thân đưa nhà báo đi rồi gọi nước lên cho mà xem… Hai chi tiết đó đã khiến tôi bớt thấy mơ hồ, hoài nghi. Bụng bảo dạ: yên tâm, yên tâm, cái gì nó cũng phải có lý của nó. Cứ chờ “hạ hồi phân giải”!

Chủ tịch UBND xã Hồng Quang, anh Nông Bình Phương, sinh năm 1961, đang hỉ hả tiếp nhà báo Hà Nội, khi được hỏi về mó nước Rằng Phặt thì bất ngờ chuyển sang… bức xúc: Việc bao đời nay bà con dùng “thần chú” gọi là nước dâng lên ngập ngụa là sự thật, bao nhiêu người vào thăm thú, cả bọn trộm cắp đánh xe Ben, đem xôi gà vào cúng lễ rồi phá hang nước tơi bời hòng tìm vàng bạc, thế mà không một ai nhiệt tình quay lại giải thích cho chúng tôi biết “nguyên do” của chuyện lạ.

Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Hải cũng lo lắng: Bao nhiêu đoàn đến “ngó”, chụp ảnh rồi họ bỏ về, tịnh không một “hồi âm”. “Xã Hồng Quang có 108 đảng viên, với 12 khu hành chính (xóm, bản), 100% bà con người Nùng, ai cũng biết chuyện mó nước không phải vấn đề tuyên truyền “ma tà” gì, nó là sự thật từ nhiều đời. Ông tôi, bố tôi đã kể lại cho tôi câu chuyện ấy, tất cả người già người trẻ đều được truyền dạy một “sự tích” như vậy” – anh Hải nhấn mạnh.

Ông Trần Văn Hải, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang trực tiếp đến mó nước, vỗ tay, đọc “thần chú” gọi nước về.
 
Mó nước nằm cách Ủy ban khoảng 2km, ở bản Lũng Sạng, tên Rằng Phặt, tức là cái hố sâu (Rằng) đặt tên là Phặt. Mó nước nằm dưới một thung lũng bạt ngàn hoa màu, xanh mướt mát quanh các bờ rào đá xám ngoét, trâu bò thoải mái đằm ở ven các mạch nước ngầm mà hễ cứ ai đọc thần chú là phun lên ào ạt.
 
Xung quanh là núi đá cao chất ngất, các vách đá rỗng rốp, thăn thớ, đua ra từ đỉnh trời đủ hình thù kỳ dị tầm như Quỷ Môn Quan (cửa đá hình mặt quỷ) ở Lạng Sơn. Chưa bao giờ, thời nào, có một ai nhìn thấy mó bị cạn nước hoàn toàn.
 
Cùng lắm, nó chỉ cạn đến mức lộ ra cái cửa hang để kẻ tò mò chui vào; hễ cứ chui vào vài bước là nước dâng lên, ai không chạy ra nhanh sẽ mất xác trong lòng sông ngầm bí ẩn hơn cả ngục A Tỳ kia. Nước, với sức mạnh của mình, thật sự là một vị thần giữ cho những bí ẩn của hang tối càng trở nên bí ẩn hơn.
Hang đá thông lên mặt đất theo phương thẳng đứng (địa hình karst) với rất nhiều “địa đạo” bí ẩn; các hố tròn há miệng lên trời cứ nghe “thần chú” là phun nước ra cũng đổ nước vào muôn vàn cái cửa  hang ngầm trong lòng núi, lòng gò đồi, lòng ruộng rẫy xung quanh. Toàn bộ khu vực chi chít các “dòng sông ngầm”, các mạch nước ngầm.
 
Bà con thì đọc câu thần chú “cha truyền con nối” để dụ nước ra cho trâu bò uống, cho các máy công suất lớn suốt ngày đêm bơm nước mó lên làm ngói ống, ngói vảy trong các lò nung, lấy nước tưới cho các ruộng ngô đỗ xung quanh xã.
 
Câu thần chú được Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Hải ghi nguyên văn vào sổ tay của tôi như sau: “Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi Rằng Phặt. Sặc sìn sặc ngằn, lố!” (theo tiếng Nùng, đại ý: tý là bé, là cô gái, đây là lời gọi các cô Xằm, cô Sỏi, cô Mỏi ơi; Rằng Phặt là tên mó nước; Sặc sìn sặc ngằn, là nó ăn trộm vàng ăn trộm bạc; lố là một hư từ, một từ gióng lên như một tiếng tri hô.
 
Tóm lại, câu thần chú là lời hô hoán, thông báo của bà con với 3 cô gái được coi là “thần giữ của” dưới mó nước từ bao đời nay, hãy dâng nước lên để chống lại bọn ăn trộm các quan tài mà bà con được truyền tụng là có xếp tầng tầng lớp lớp trong các hang sâu).

Hiện tượng kỳ thú cần lời giải 

Tay lăm lăm máy ảnh, máy quay phim, dò dẫm ra gần mó nước Rằng Phặt, ngũ lục giác quan của tôi và các đồng nghiệp ở Đài Phát thanh – Truyền hình Cao Bằng cùng căng như dây đàn. Bí thư Trần Văn Hải đọc “Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi…” xong, sau tiếng “lố”, từ dưới lòng một khe đá hình tròn có diện tích chỉ bằng cái mâm ăn cơm, nước bắt đầu đùn ra ào ạt. Nước sủi tăm, nước cuồn cuộn nhè nhẹ, giống như một nồi nước lúc bắt đầu nổi tăm mắt cua để sủi.
 
Toàn bộ mó nước có diện tích bằng độ hai cái gian nhà xanh thăm thẳm chợt sôi động hẳn lên. Nước phun từ mó ra, tràn ra các khoang chứa đầy bùn đất, lúp súp cỏ dại; nước rút ở khu này thì nước lại dâng lên ở khu khác; nước chạy vào hai cái hang sâu vô tận ở chân vách đá vôi. 

Ngay tại cái miệng chính của mó nước Rằng Phặt, lúc thì nước đùn ra, lúc thì nước lại bị hút vào, khiến những người có mặt cứ liên tục gào lên hào hứng: “Nó đang ra!”; “Nó lại đang bị hút vào!”… Thả một ít vỏ trấu, một ít lá cây tươi nổi trên mặt mó nước, chúng tôi quan sát rất rõ đường đi của vỏ trấu và lá cây, nó chạy vòng quanh, nó chui vào các hang tối rồi có khi lại ùn ùn chạy ra như có một bàn tay vô hình nào đó đang bày binh bố trận… 

 

Biên tập viên và quay phim của Đài Phát thanh Truyền hình Cao Bằng cũng có mặt để ghi lại hình ảnh “khó tin” ở mó nước biết vâng lời người.

 

“Thần chú” gọi nước bằng tiếng Nùng văng vẳng, “Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi…”, núi đá cao dựng trời, các triền đồi hoang vắng đen sẫm toàn cây cổ thụ đã khiến cho không gian của mó nước thêm phần Liêu Trai. Anh Trần Văn Hải, leo lên vách núi, bẻ một cây sắn lớn về cắm ở rìa mó nước, dùng dao đánh dấu lên thân cây, rồi cất tiếng gọi 3 cô Xằm, Sọi, Mỏi ra giữ vàng bạc, để chúng tôi quay phim chụp ảnh cái cảnh nước dâng lên theo “tiếng gọi” như thế nào.
 
Anh Hải bảo, nửa đêm, có những kẻ nghe lời đồn, đánh cả ôtô “leo núi” vào bản, dùng lễ vật là gà, xôi, bánh kẹo, thắp nhang rồi đeo dây an toàn, cầm đèn pin, tụt xuống hang tìm… báu vật. Ở trên mặt ruộng của bà con, toàn các khối đá lớn, có một lỗ nhỏ thông với mó nước, bà con đã phải dùng các tảng đá lớn lấp lại kẻo sợ con người và súc vật sa xuống đó mất xác.
 
Thế mà, cánh “trộm đêm” đã hò nhau dọn sạch các tảng đá rồi chui xuống lòng hang tối. Không ngờ, kẻ ở trên, người cầm dây an toàn lần xuống dưới, nước dâng lên, họ sợ quá, kéo nhau bỏ chạy cả. Cách đây chưa lâu, có nhóm thanh niên ở Nam Định, cũng kéo 5 người lên Rằng Phặt tìm vàng, sau khi bị “ba cô” dâng nước dằn mặt, đám “đạo tặc” bỏ chạy tán loạn, sáng ra, ở miệng mó nước chỉ còn xôi, gà và 5 đôi dép lê cũ rách.

Ông Nông Văn Sẻn, gần 60 tuổi, tình cờ cầm roi, rong đàn trâu no phưỡn bụng về mó Rằng Phặt uống nước, chúng tôi làm trắc nghiệm: tiếp tục hỏi sự tích mó nước, ông Sẻn đã nói giống hệt như tất cả bà con mà chúng tôi từng gặp.

Ông Sẻn bảo, cuối những năm 70, cái lò làm ngói máng, ngói ống ở bên cạnh Rằng Phặt, cánh thợ ngày đêm bơm nước của mó này lên để hành nghề, có ông chủ lò ngói tên là Triệu Văn Phín, từng cả gan thám thính cái hang nước bí ẩn.
 
Mục đích của ông Phín là đi tìm kho vàng, kho bạc, với hy vọng có ngày giàu có, không bao giờ phải nhào đất và nước vào… khuôn khổ nữa! Tay cầm một cái túi rết, một thẻ nhang, một đèn 3 pin con thỏ, một cái bật lửa, ông Phín lặng lẽ, thận trọng, rón rén đi vào hang như một con mèo khôn ngoan.

Xuống độ 30 mét, giữa tối om, vừa sờ vào vách đá thì nghe tiếng ào ào, ầm ầm, nước cuộn xiết dâng lên. Nhờ sợi dây buộc ngang lưng có một số kẻ “tay chân” kéo ở phía trên, nhờ tài bơi lội như rái cá, ông Phín mới thoát chết. Cả làng ra xem “tai họa”, thì thấy ông Phín ngồi bần thần bên cửa hang, mặt tái xanh tái tử, ai hỏi gì cũng ậm ừ. Ông dường như quên cả tiếng nói trong suốt mấy ngày.

Anh Phan Văn Hưởng, 40 tuổi, sống gần mó nước Rằng Phặt, người chứng kiến tất cả những kẻ tấn công hang tối từ lâu nay, kể: có lần tôi thấy nhóm người tự xưng là “nghiên cứu địa chất của tỉnh” đến tìm cách vào hang, vần đá, có khi họ làm việc giữa đêm tối, chúng tôi rất nghi ngờ, bà con kéo ra càng đông. Họ có vẻ sợ sệt rồi bỏ đi, khi đến và khi đi, họ tuyệt nhiên không liên lạc gì với chính quyền xã.
 
Nhờ tìm tòi, anh Hưởng dần phát hiện ra: bà con ai cũng đọc thần chú gọi ba cô khi họ cần đến nước của Rằng Phặt. Nhưng thật ra, anh Hưởng và nhiều người cũng đã thử: cứ có tiếng vỗ tay hoặc gọi là nước lên, không cứ gì phải đọc đúng “tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi…” bằng tiếng Nùng.

Vậy là, bài toán được gợi mở: Cứ có tiếng hô hoán, tiếng động là nước dâng lên hoặc nước bị hút đi, một sự thật mà khoa học hoàn toàn có thể lý giải được, tức là: hễ có sự cộng hưởng âm thanh, là nước tuôn ra.

Chiều sậm dần, bà con tiễn đoàn nhà báo chúng tôi ở dưới chân vách núi Mặt Quỷ mơ màng, bí ẩn, chỉ với một lời nhắn nhủ: nhớ tìm người giải thích, nhớ trở lại với bản làng chúng tôi nhé.
 
Gã trai 34 tuổi, tay xăm trổ xanh lè vừa gọi các cô dưới mó nước, giờ đây thở dài: “Có  khi bọn tôi phải tính một kế được ăn cả ngã về không, bác ạ; chúng tôi thuê máy xúc đào toàn bộ khu vực mó nước và các hang ngầm lên, mất độ 50 triệu đồng. Nếu tìm được các quan tài vàng thì chia nhau, giàu kếch sù, nếu không tìm được thì cùng chịu lỗ. Cái “được” quan trọng hơn là lý giải được câu chuyện “tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi” lạ lùng từ nhiều đời qua”.

Thú thật, suốt từ lúc vào xã, lội chân xuống mó nước “thần bí”, lặn lội ở các triền núi hoang vu của Hồng Quang, tôi chưa rùng mình một lần nào; nhưng khi gã trai xăm trổ “táo gan” đưa ra ý tưởng bất ngờ kia, tôi đã có cảm giác mình đang tái mặt đi. Một mó nước biết “vâng lời” người, một huyền thoại nghìn đời cha ông người Quảng Uyên để lại, một hiện tượng tự nhiên kỳ thú… – liệu có thể được ứng xử như thế sao?

 

Chúng ta vẫn nợ bà con người Nùng ở Hồng Quang một câu trả lời

Tiến sĩ khoa học (TSKH) Vũ Cao Minh (Viện Địa chất) là một chuyên gia nhiều năm nghiên cứu về địa hình karst, về các nguồn nước ngầm rồi đúc kết trong một đề tài khoa học lớn; Từng nổi tiếng khi thành công trong dự án tìm nước và xây cả hệ thống hồ treo chứa nước “cứu” cao nguyên đá Hà Giang, vùng núi Sơn La vơi cơn khát từ ngàn đời.
 
Sau khi tiếp cận với các tài liệu bài viết và hình ảnh sinh động về mó nước ở Quảng Uyên mà người viết bài này cung cấp, TSKH Vũ Cao Minh đã nhận xét:
 
Thứ nhất, trên thế giới, hiện tượng các mó nước (nguồn nước) khi đầy, khi vơi, lúc cạn, lúc chảy, lúc chảy ra nhiều lúc chảy ra ít là khá phổ biến. Là có nguyên lý khoa học, hoàn toàn có thể giải thích được. Tuy nhiên, một mó nước biết “vâng lời” người, nước có thể chảy ra sau tiếng vỗ tay, sau tiếng gọi (đọc thần chú) là hiện tượng lạ, kỳ thú.
 
Bản thân ông Minh chưa từng nghe thấy, ông lục tìm nhiều “văn liệu” về địa chất cũng chưa thấy “ghi” một câu chuyện nào tương tự. Nếu đúng như mô tả của bà con, thì đây là một hiện tượng vô cùng kỳ thú, kỳ thú cả trong khoa học lẫn trong đời sống thường nhật. Ông Minh muốn sớm lên đó để nghiên cứu.

Thứ hai, chúng ta có thể phỏng đoán về các cái “bẫy không khí” trong khu vực có mó nước Rằng Phặt. Tức là từ sự tích tụ không khí, khi có âm thanh, kết hợp với nhiều yếu tố khác, năng lượng từ khối không khí đó được giải phóng, nó đẩy nước ra. Chuyện kiểu này đã từng diễn ra ở những khu vực, do bẫy không khí, bùn lỏng phun ra khỏi vách núi khi có tiếng động mạnh. Tương tự, ở một số khu vực khai thác dầu khí, do “bẫy không khí”, có lúc dầu ra nhiều, có lúc dầu ra ít.

Theo tư duy của ông Minh, nếu có hiện tượng nước phun ra mỗi khi xuất hiện “cộng hưởng âm thanh”, thì chắc chắn lượng nước phun ra đó phải được “gọi” đến từ các vách núi, các khe nứt, các “dòng sông ngầm”, chứ không thể là nước dưới lòng đất sâu hàng chục mét phun lên. Trước đây, nhờ tìm ra “nguyên tắc” nước vách núi này, mà ông Minh và các cộng sự đã sáng tạo ra hệ thống hồ treo nổi tiếng trên cao nguyên đá Đồng Văn.

 Theo Công an nhân dân

Đăng bởi: phamvietdaonv | 31.10.2009

Bảo Vệ hay Tự Vệ

Ô Sin 

Cuối cùng, giải pháp bảo vệ an ninh cho ngư dân đã được đưa ra bàn tại Quốc hội. Chưa bao giờ người dân Việt Nam đánh cá trên lãnh hải ông cha lại hay bị Tàu Trung Quốc bắn giết, bắt giữ và cướp bóc nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, đòi “các đội tàu đánh bắt xa bờ phải tổ chức những đơn vị dân quân” thì lại rất cần xem lại. Tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy ban An Ninh Quốc phòng cho rằng: “Dân quân tự vệ biển sẽ được trang bị súng để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền Việt Nam”. Sáng kiến của ông Bình được Luật sư Nguyễn Đăng Trừng phụ họa: “Trong tình hình tranh chấp chủ quyền Biển Đông rất phức tạp như hiện nay, nếu không tổ chức khai thác đánh bắt liên tục trên vùng biển của ta thì dần dần trong thực tế, chúng ta sẽ mất chủ quyền trên biển”. Ông Trừng nói đúng, nhưng “trang bị súng cho ngư dân” không những không giúp họ bảo vệ được bản thân trước những chiến hạm của giặc ở Hoàng Sa mà còn có thể là cái cớ để những con tàu cá mỏng manh của Việt Nam bị bắn. Ở đâu mà Dân không thể tự do đi, đến thì ở nơi đó Nước không có chủ quyền. Nhưng, Nước không thể giữ chủ quyền bằng cách đưa Dân đến nhưng nơi không đảm bảo được an ninh cho họ. Người dân ra biển là để mưu sinh chứ không phải để hy sinh. Đó là lý do mà một số ngư dân đã phải bán thuyền bán lưới khi họ không tìm thấy an ninh cho dù ngoài biển khơi vẫn có rất nhiều tôm cá. Tương quan lực lượng và diễn tiến xung đột khu vực Biển Đông cho thấy chúng ta đang ở một thời điểm phải đầu tư thích đáng để xây dựng lực lượng chính quy chứ không phải là dân quân. Tháng 6-2009, trên blogosin, tôi đã đề nghị thiết lập hạm đồn biên phòng Hoàng Sa. Theo đó, “Hạm” sẽ là một căn cứ: vừa tiếp tế cho các lực lượng đang giữ đảo Trường Sa; vừa phát tín hiệu giúp ngư dân xác định “lãnh hải” của Việt Nam; vừa có những đội tàu cao tốc có thể ứng cứu thật nhanh khi ngư dân gặp nạn. Chi phí một chiến hạm như vậy không nhỏ, nhưng với một quốc gia có bờ biển dài, phạm vi rộng và tính chất phức tạp như Việt Nam thì không thể không đầu tư. Chúng ta có đủ tiền nếu việc đầu tư cho an ninh quốc phòng không còn dàn trải. “Chiến tranh nhân dân” đã là yếu tố giúp Việt Nam thắng trong những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Tuy nhiên, “chiến tranh nhân dân” là phương thức chỉ có thể phát động bởi những người dân đang sống trong những vùng có ngoại bang chiếm đóng. Nó cần trước hết lòng yêu nước, căm thù giặc; tuy nhiên, ở đâu mà nhân dân tự phát thì rất dễ bị đàn áp; ở đâu mà những người lãnh đạo kháng chiến biết tạo thành một thế trận thì “nhân dân” sẽ quấy rối, tiêu hao sinh lực địch để khi quân chủ lực xuất hiện thì có thể giải quyết dứt điểm chiến trường. “Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng”, Lòng yêu nước sẽ “trở thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ”. Nhưng, với một quốc gia mà giặc lúc nào cũng ngấp nghé thì phải chuẩn bị chứ không thể chờ đến khi chúng xách súng đến nhà. Tuy nhiên, chuẩn bị mà quá mức cần thiết thì không chỉ lãng phí mà không khéo còn làm sứt mẻ đi hình ảnh anh hùng của quân đội. Nếu như trong chiến tranh, khi đang có quân đội nước ngoài chiếm đóng, bên cạnh các quân, sư đoàn, quân đội có thể tổ chức các lực lượng địa phương như: quân khu, tỉnh đội, huyện đội và xã đội. Thì, trong thời bình quân đội chỉ nên tổ chức các sư đoàn chủ lực, có khả năng tác chiến tốt và hình thành các quân đoàn thật nhanh. Vì lực lượng quân chủ lực không cần duy trì quá lớn nên từ sỹ quan cho đến binh lính, thay vì tuyển “nghĩa vụ” thì chỉ tuyển những người có tố chất và tự nguyện lựa chọn binh nghiệp lâu dài. Các doanh trại quân đội vì thế không cần đóng trong các thành phố, nơi chỉ có dân, mà phải đóng ở những nơi có thể cơ động nhanh đánh địch. Bên cạnh các doanh trại quân đội là khu gia binh với đầy đủ các dịch vụ về y tế, văn hóa, giáo dục cho gia đình người lính. Tuy nhiên, để đảm bảo khi tổ quốc bị xâm lăng, trai tráng có kỹ năng tham gia chiến tranh nhân dân, trong đời tất cả đàn ông đều phải tham dự một khóa huấn luyện quân sự bắt buộc, có lẽ chỉ cần 3 tháng. Để khóa huấn luyện quân sự này không ảnh hưởng nhiều đến việc học hành và việc làm của đàn ông, thay vì “bị gọi” nên để họ đăng ký vào bất cứ thời điểm nào mà họ cho là thích hợp nhất trong khoảng từ 18 cho đến năm 30 tuổi. Trong số những trai tráng huấn luyện 3 tháng ấy, nếu ai có khả năng chỉ huy và lòng đam mê thì nhà nước trả tiền để họ dự thêm các khóa huấn luyện sỹ quan dự bị. Khi chiến tranh xảy ra, những người ấy có thể đứng trong đội hình các đơn vị chiến đấu, được hình thành bởi các “khung” từ các đơn vị chủ lực hoặc có thể sẽ ở lại trong vùng tạm chiếm chỉ huy chiến tranh nhân dân. Chỉ cần cấu trúc lại quân đội rồi dùng cơ sở vật chất của quân khu, của thành đội, của các quận đội, các phường đội đóng trong một thành thành phố thôi cũng đủ để mua cho Việt Nam không chỉ một hạm tàu giữ biển. Khi chiến tranh xâm lược trên toàn cục không có khả năng xảy ra trong một tương lai khoảng 5-7 năm mà vẫn duy trì một bộ máy theo mô hình chiến tranh nhân dân là không chỉ vô cùng lãng phí. Hẳn nhiều người còn nhớ vụ một Phường đội phó Phường 15 Quận 10 chỉ huy các chiến sỹ Phường đội bắt giữ và tra tấn 4 học sinh của trường phổ thông Trần Phú; vụ 3 chiến sỹ Phường đội 15 Gò Vấp đánh chết anh Nguyễn Nhật Minh; vụ các chiến sỹ Phường đội Tân Hưng, Quận 7 dùng gậy và dùi cui đánh mấy thường dân chỉ vì “Phường” rủ đi nhậu mà các thường dân này không chịu. Đối tượng chiến đấu của quân đội là giặc xâm lăng, trong bất kỳ tình huống nào, quân đội cũng không được đưa ra để xung đột với nhân dân. Bởi nếu dân mà không còn tin thì khi có chiến tranh quân đội ấy làm sao được nhân dân ủng hộ. Đã là những người được vũ trang thì phải chính quy và phải đặt mình trong doanh trại và trong quân phục. Quyền vũ trang không thể được sử dụng trong một môi trường vô kỷ luật. Đó là lý do, trong thời bình quân đội nên tổ chức thành những đơn vị chuyên nghiệp và tinh nhuệ, có khả năng cơ động cao và chỉ có một mục tiêu duy nhất là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Tướng Lê Quang Bình hẳn còn nhớ vụ tàu USS Maddox và “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ngày 2-8-1964. Khi đang có kẻ đứng bên mình lăm le thì một phát súng bắn đi từ một con tàu nhỏ của ngư dân cũng có thể bị sử dụng như một cái cớ làm nổ ra xung đột. Không thể có một hành động quân sự trên một vùng biển tranh chấp với một lũ giặc đầy mưu mô mà lại không được tính toán chiến lược ở cấp tối cao. Ngư dân khi có súng ống trong tay lại ở giữa biển khơi chỉ cần “cướp cò” là đã có thể kéo cả hai quốc gia vào cuộc chiến. Do vậy, lập “dân quân biển” và “trang bị súng” cho ngư dân không chỉ đặt tính mạng của những ngư dân ấy trong mối đe dọa cao hơn mà còn có thể đặt tổ quốc vào chỗ lâm nguy. Quốc hội nên bình tĩnh để tìm phương cách bảo vệ dân thay vì buộc nhân dân tự vệ. Bảo Vệ hay Tự Vệ Ô Sin // October 31 2009 // Đảo & Biên Giới // In Bài Cuối cùng, giải pháp bảo vệ an ninh cho ngư dân đã được đưa ra bàn tại Quốc hội. Chưa bao giờ người dân Việt Nam đánh cá trên lãnh hải ông cha lại hay bị Tàu Trung Quốc bắn giết, bắt giữ và cướp bóc nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, đòi “các đội tàu đánh bắt xa bờ phải tổ chức những đơn vị dân quân” thì lại rất cần xem lại. Tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy ban An Ninh Quốc phòng cho rằng: “Dân quân tự vệ biển sẽ được trang bị súng để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền Việt Nam”. Sáng kiến của ông Bình được Luật sư Nguyễn Đăng Trừng phụ họa: “Trong tình hình tranh chấp chủ quyền Biển Đông rất phức tạp như hiện nay, nếu không tổ chức khai thác đánh bắt liên tục trên vùng biển của ta thì dần dần trong thực tế, chúng ta sẽ mất chủ quyền trên biển”. Ông Trừng nói đúng, nhưng “trang bị súng cho ngư dân” không những không giúp họ bảo vệ được bản thân trước những chiến hạm của giặc ở Hoàng Sa mà còn có thể là cái cớ để những con tàu cá mỏng manh của Việt Nam bị bắn. Ở đâu mà Dân không thể tự do đi, đến thì ở nơi đó Nước không có chủ quyền. Nhưng, Nước không thể giữ chủ quyền bằng cách đưa Dân đến nhưng nơi không đảm bảo được an ninh cho họ. Người dân ra biển là để mưu sinh chứ không phải để hy sinh. Đó là lý do mà một số ngư dân đã phải bán thuyền bán lưới khi họ không tìm thấy an ninh cho dù ngoài biển khơi vẫn có rất nhiều tôm cá. Tương quan lực lượng và diễn tiến xung đột khu vực Biển Đông cho thấy chúng ta đang ở một thời điểm phải đầu tư thích đáng để xây dựng lực lượng chính quy chứ không phải là dân quân. Tháng 6-2009, trên blogosin, tôi đã đề nghị thiết lập hạm đồn biên phòng Hoàng Sa. Theo đó, “Hạm” sẽ là một căn cứ: vừa tiếp tế cho các lực lượng đang giữ đảo Trường Sa; vừa phát tín hiệu giúp ngư dân xác định “lãnh hải” của Việt Nam; vừa có những đội tàu cao tốc có thể ứng cứu thật nhanh khi ngư dân gặp nạn. Chi phí một chiến hạm như vậy không nhỏ, nhưng với một quốc gia có bờ biển dài, phạm vi rộng và tính chất phức tạp như Việt Nam thì không thể không đầu tư. Chúng ta có đủ tiền nếu việc đầu tư cho an ninh quốc phòng không còn dàn trải. “Chiến tranh nhân dân” đã là yếu tố giúp Việt Nam thắng trong những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Tuy nhiên, “chiến tranh nhân dân” là phương thức chỉ có thể phát động bởi những người dân đang sống trong những vùng có ngoại bang chiếm đóng. Nó cần trước hết lòng yêu nước, căm thù giặc; tuy nhiên, ở đâu mà nhân dân tự phát thì rất dễ bị đàn áp; ở đâu mà những người lãnh đạo kháng chiến biết tạo thành một thế trận thì “nhân dân” sẽ quấy rối, tiêu hao sinh lực địch để khi quân chủ lực xuất hiện thì có thể giải quyết dứt điểm chiến trường. “Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng”, Lòng yêu nước sẽ “trở thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ”. Nhưng, với một quốc gia mà giặc lúc nào cũng ngấp nghé thì phải chuẩn bị chứ không thể chờ đến khi chúng xách súng đến nhà. Tuy nhiên, chuẩn bị mà quá mức cần thiết thì không chỉ lãng phí mà không khéo còn làm sứt mẻ đi hình ảnh anh hùng của quân đội. Nếu như trong chiến tranh, khi đang có quân đội nước ngoài chiếm đóng, bên cạnh các quân, sư đoàn, quân đội có thể tổ chức các lực lượng địa phương như: quân khu, tỉnh đội, huyện đội và xã đội. Thì, trong thời bình quân đội chỉ nên tổ chức các sư đoàn chủ lực, có khả năng tác chiến tốt và hình thành các quân đoàn thật nhanh. Vì lực lượng quân chủ lực không cần duy trì quá lớn nên từ sỹ quan cho đến binh lính, thay vì tuyển “nghĩa vụ” thì chỉ tuyển những người có tố chất và tự nguyện lựa chọn binh nghiệp lâu dài. Các doanh trại quân đội vì thế không cần đóng trong các thành phố, nơi chỉ có dân, mà phải đóng ở những nơi có thể cơ động nhanh đánh địch. Bên cạnh các doanh trại quân đội là khu gia binh với đầy đủ các dịch vụ về y tế, văn hóa, giáo dục cho gia đình người lính. Tuy nhiên, để đảm bảo khi tổ quốc bị xâm lăng, trai tráng có kỹ năng tham gia chiến tranh nhân dân, trong đời tất cả đàn ông đều phải tham dự một khóa huấn luyện quân sự bắt buộc, có lẽ chỉ cần 3 tháng. Để khóa huấn luyện quân sự này không ảnh hưởng nhiều đến việc học hành và việc làm của đàn ông, thay vì “bị gọi” nên để họ đăng ký vào bất cứ thời điểm nào mà họ cho là thích hợp nhất trong khoảng từ 18 cho đến năm 30 tuổi. Trong số những trai tráng huấn luyện 3 tháng ấy, nếu ai có khả năng chỉ huy và lòng đam mê thì nhà nước trả tiền để họ dự thêm các khóa huấn luyện sỹ quan dự bị. Khi chiến tranh xảy ra, những người ấy có thể đứng trong đội hình các đơn vị chiến đấu, được hình thành bởi các “khung” từ các đơn vị chủ lực hoặc có thể sẽ ở lại trong vùng tạm chiếm chỉ huy chiến tranh nhân dân. Chỉ cần cấu trúc lại quân đội rồi dùng cơ sở vật chất của quân khu, của thành đội, của các quận đội, các phường đội đóng trong một thành thành phố thôi cũng đủ để mua cho Việt Nam không chỉ một hạm tàu giữ biển. Khi chiến tranh xâm lược trên toàn cục không có khả năng xảy ra trong một tương lai khoảng 5-7 năm mà vẫn duy trì một bộ máy theo mô hình chiến tranh nhân dân là không chỉ vô cùng lãng phí. Hẳn nhiều người còn nhớ vụ một Phường đội phó Phường 15 Quận 10 chỉ huy các chiến sỹ Phường đội bắt giữ và tra tấn 4 học sinh của trường phổ thông Trần Phú; vụ 3 chiến sỹ Phường đội 15 Gò Vấp đánh chết anh Nguyễn Nhật Minh; vụ các chiến sỹ Phường đội Tân Hưng, Quận 7 dùng gậy và dùi cui đánh mấy thường dân chỉ vì “Phường” rủ đi nhậu mà các thường dân này không chịu. Đối tượng chiến đấu của quân đội là giặc xâm lăng, trong bất kỳ tình huống nào, quân đội cũng không được đưa ra để xung đột với nhân dân. Bởi nếu dân mà không còn tin thì khi có chiến tranh quân đội ấy làm sao được nhân dân ủng hộ. Đã là những người được vũ trang thì phải chính quy và phải đặt mình trong doanh trại và trong quân phục. Quyền vũ trang không thể được sử dụng trong một môi trường vô kỷ luật. Đó là lý do, trong thời bình quân đội nên tổ chức thành những đơn vị chuyên nghiệp và tinh nhuệ, có khả năng cơ động cao và chỉ có một mục tiêu duy nhất là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Tướng Lê Quang Bình hẳn còn nhớ vụ tàu USS Maddox và “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ngày 2-8-1964. Khi đang có kẻ đứng bên mình lăm le thì một phát súng bắn đi từ một con tàu nhỏ của ngư dân cũng có thể bị sử dụng như một cái cớ làm nổ ra xung đột. Không thể có một hành động quân sự trên một vùng biển tranh chấp với một lũ giặc đầy mưu mô mà lại không được tính toán chiến lược ở cấp tối cao. Ngư dân khi có súng ống trong tay lại ở giữa biển khơi chỉ cần “cướp cò” là đã có thể kéo cả hai quốc gia vào cuộc chiến. Do vậy, lập “dân quân biển” và “trang bị súng” cho ngư dân không chỉ đặt tính mạng của những ngư dân ấy trong mối đe dọa cao hơn mà còn có thể đặt tổ quốc vào chỗ lâm nguy. Quốc hội nên bình tĩnh để tìm phương cách bảo vệ dân thay vì buộc nhân dân tự vệ. Bảo Vệ hay Tự Vệ Ô Sin // October 31 2009 // Đảo & Biên Giới // In Bài Cuối cùng, giải pháp bảo vệ an ninh cho ngư dân đã được đưa ra bàn tại Quốc hội. Chưa bao giờ người dân Việt Nam đánh cá trên lãnh hải ông cha lại hay bị Tàu Trung Quốc bắn giết, bắt giữ và cướp bóc nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, đòi “các đội tàu đánh bắt xa bờ phải tổ chức những đơn vị dân quân” thì lại rất cần xem lại. Tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy ban An Ninh Quốc phòng cho rằng: “Dân quân tự vệ biển sẽ được trang bị súng để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền Việt Nam”. Sáng kiến của ông Bình được Luật sư Nguyễn Đăng Trừng phụ họa: “Trong tình hình tranh chấp chủ quyền Biển Đông rất phức tạp như hiện nay, nếu không tổ chức khai thác đánh bắt liên tục trên vùng biển của ta thì dần dần trong thực tế, chúng ta sẽ mất chủ quyền trên biển”. Ông Trừng nói đúng, nhưng “trang bị súng cho ngư dân” không những không giúp họ bảo vệ được bản thân trước những chiến hạm của giặc ở Hoàng Sa mà còn có thể là cái cớ để những con tàu cá mỏng manh của Việt Nam bị bắn. Ở đâu mà Dân không thể tự do đi, đến thì ở nơi đó Nước không có chủ quyền. Nhưng, Nước không thể giữ chủ quyền bằng cách đưa Dân đến nhưng nơi không đảm bảo được an ninh cho họ. Người dân ra biển là để mưu sinh chứ không phải để hy sinh. Đó là lý do mà một số ngư dân đã phải bán thuyền bán lưới khi họ không tìm thấy an ninh cho dù ngoài biển khơi vẫn có rất nhiều tôm cá. Tương quan lực lượng và diễn tiến xung đột khu vực Biển Đông cho thấy chúng ta đang ở một thời điểm phải đầu tư thích đáng để xây dựng lực lượng chính quy chứ không phải là dân quân. Tháng 6-2009, trên blogosin, tôi đã đề nghị thiết lập hạm đồn biên phòng Hoàng Sa. Theo đó, “Hạm” sẽ là một căn cứ: vừa tiếp tế cho các lực lượng đang giữ đảo Trường Sa; vừa phát tín hiệu giúp ngư dân xác định “lãnh hải” của Việt Nam; vừa có những đội tàu cao tốc có thể ứng cứu thật nhanh khi ngư dân gặp nạn. Chi phí một chiến hạm như vậy không nhỏ, nhưng với một quốc gia có bờ biển dài, phạm vi rộng và tính chất phức tạp như Việt Nam thì không thể không đầu tư. Chúng ta có đủ tiền nếu việc đầu tư cho an ninh quốc phòng không còn dàn trải. “Chiến tranh nhân dân” đã là yếu tố giúp Việt Nam thắng trong những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Tuy nhiên, “chiến tranh nhân dân” là phương thức chỉ có thể phát động bởi những người dân đang sống trong những vùng có ngoại bang chiếm đóng. Nó cần trước hết lòng yêu nước, căm thù giặc; tuy nhiên, ở đâu mà nhân dân tự phát thì rất dễ bị đàn áp; ở đâu mà những người lãnh đạo kháng chiến biết tạo thành một thế trận thì “nhân dân” sẽ quấy rối, tiêu hao sinh lực địch để khi quân chủ lực xuất hiện thì có thể giải quyết dứt điểm chiến trường. “Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng”, Lòng yêu nước sẽ “trở thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ”. Nhưng, với một quốc gia mà giặc lúc nào cũng ngấp nghé thì phải chuẩn bị chứ không thể chờ đến khi chúng xách súng đến nhà. Tuy nhiên, chuẩn bị mà quá mức cần thiết thì không chỉ lãng phí mà không khéo còn làm sứt mẻ đi hình ảnh anh hùng của quân đội. Nếu như trong chiến tranh, khi đang có quân đội nước ngoài chiếm đóng, bên cạnh các quân, sư đoàn, quân đội có thể tổ chức các lực lượng địa phương như: quân khu, tỉnh đội, huyện đội và xã đội. Thì, trong thời bình quân đội chỉ nên tổ chức các sư đoàn chủ lực, có khả năng tác chiến tốt và hình thành các quân đoàn thật nhanh. Vì lực lượng quân chủ lực không cần duy trì quá lớn nên từ sỹ quan cho đến binh lính, thay vì tuyển “nghĩa vụ” thì chỉ tuyển những người có tố chất và tự nguyện lựa chọn binh nghiệp lâu dài. Các doanh trại quân đội vì thế không cần đóng trong các thành phố, nơi chỉ có dân, mà phải đóng ở những nơi có thể cơ động nhanh đánh địch. Bên cạnh các doanh trại quân đội là khu gia binh với đầy đủ các dịch vụ về y tế, văn hóa, giáo dục cho gia đình người lính. Tuy nhiên, để đảm bảo khi tổ quốc bị xâm lăng, trai tráng có kỹ năng tham gia chiến tranh nhân dân, trong đời tất cả đàn ông đều phải tham dự một khóa huấn luyện quân sự bắt buộc, có lẽ chỉ cần 3 tháng. Để khóa huấn luyện quân sự này không ảnh hưởng nhiều đến việc học hành và việc làm của đàn ông, thay vì “bị gọi” nên để họ đăng ký vào bất cứ thời điểm nào mà họ cho là thích hợp nhất trong khoảng từ 18 cho đến năm 30 tuổi. Trong số những trai tráng huấn luyện 3 tháng ấy, nếu ai có khả năng chỉ huy và lòng đam mê thì nhà nước trả tiền để họ dự thêm các khóa huấn luyện sỹ quan dự bị. Khi chiến tranh xảy ra, những người ấy có thể đứng trong đội hình các đơn vị chiến đấu, được hình thành bởi các “khung” từ các đơn vị chủ lực hoặc có thể sẽ ở lại trong vùng tạm chiếm chỉ huy chiến tranh nhân dân. Chỉ cần cấu trúc lại quân đội rồi dùng cơ sở vật chất của quân khu, của thành đội, của các quận đội, các phường đội đóng trong một thành thành phố thôi cũng đủ để mua cho Việt Nam không chỉ một hạm tàu giữ biển. Khi chiến tranh xâm lược trên toàn cục không có khả năng xảy ra trong một tương lai khoảng 5-7 năm mà vẫn duy trì một bộ máy theo mô hình chiến tranh nhân dân là không chỉ vô cùng lãng phí. Hẳn nhiều người còn nhớ vụ một Phường đội phó Phường 15 Quận 10 chỉ huy các chiến sỹ Phường đội bắt giữ và tra tấn 4 học sinh của trường phổ thông Trần Phú; vụ 3 chiến sỹ Phường đội 15 Gò Vấp đánh chết anh Nguyễn Nhật Minh; vụ các chiến sỹ Phường đội Tân Hưng, Quận 7 dùng gậy và dùi cui đánh mấy thường dân chỉ vì “Phường” rủ đi nhậu mà các thường dân này không chịu. Đối tượng chiến đấu của quân đội là giặc xâm lăng, trong bất kỳ tình huống nào, quân đội cũng không được đưa ra để xung đột với nhân dân. Bởi nếu dân mà không còn tin thì khi có chiến tranh quân đội ấy làm sao được nhân dân ủng hộ. Đã là những người được vũ trang thì phải chính quy và phải đặt mình trong doanh trại và trong quân phục. Quyền vũ trang không thể được sử dụng trong một môi trường vô kỷ luật. Đó là lý do, trong thời bình quân đội nên tổ chức thành những đơn vị chuyên nghiệp và tinh nhuệ, có khả năng cơ động cao và chỉ có một mục tiêu duy nhất là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Tướng Lê Quang Bình hẳn còn nhớ vụ tàu USS Maddox và “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ngày 2-8-1964. Khi đang có kẻ đứng bên mình lăm le thì một phát súng bắn đi từ một con tàu nhỏ của ngư dân cũng có thể bị sử dụng như một cái cớ làm nổ ra xung đột. Không thể có một hành động quân sự trên một vùng biển tranh chấp với một lũ giặc đầy mưu mô mà lại không được tính toán chiến lược ở cấp tối cao. Ngư dân khi có súng ống trong tay lại ở giữa biển khơi chỉ cần “cướp cò” là đã có thể kéo cả hai quốc gia vào cuộc chiến. Do vậy, lập “dân quân biển” và “trang bị súng” cho ngư dân không chỉ đặt tính mạng của những ngư dân ấy trong mối đe dọa cao hơn mà còn có thể đặt tổ quốc vào chỗ lâm nguy. Quốc hội nên bình tĩnh để tìm phương cách bảo vệ dân thay vì buộc nhân dân tự vệ.

Blog Osin

Bộ Ngoại giao Việt Nam hình như đang thiên về phía Trung Quốc ?!

                               Phạm Viết Đào.

https://i0.wp.com/www.dangcongsan.vn/cpv/Upload/News/2009/10/nguyenphuongngavn.jpg

Dư luận của giới quan sát “chính trị nghiệp dư” tại Hà Nội không thể không để ý tới 2 phát ngôn đối ngoại của bà Nguyễn Phương Nga, Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam với 2 thái độ “ tình ý” khác nhau…

Phát ngôn thứ nhất đó là viêc lên tiếng về vụ 1 sinh viên Việt Nam tại Mỹ bị 4 cảnh sát Mỹ hành hung; Người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã kịp thời lên tiếng ngay lập tức trước vụ việc này với thái độ và lời lẽ rất chi là căng thẳng.

Theo quan sát của giới quan sát chính trị nghiệp dư thì: phát ngôn của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao VN có vẻ còn căng thẳng hơn so những lần lên tiếng về vụ những sinh viên Việt Nam bị đám đầu trọc ở Nga sát hại…

Đối với giới quan sát chính trị nghiệp dư Hà Nội thì vụ cảnh sát Mỹ đánh sinh viên Việt Nam chẳng qua chỉ là một vụ việc đáng tiếc do sự bột phát không kiềm chế của 4 viên cảnh sát Mỹ, không ai nghĩ đó là hành vi kết tinh từ chủ trương được xuyên suốt do Chính phủ Mỹ đề ra: Có sự kỳ thị đối với lưu học sinh Việt Nam đang học tại Mỹ.

Trong vụ việc này, Chính phủ Mỹ phải chịu trách nhiệm theo kiểu: Con dại cái mang; do vậy Bộ Ngoại giao Việt Nam nên lưu ý chính phủ Mỹ hơn là giành những lời lẽ căng thẳng như cái thời hai nước còn chiến tranh với nhau dưới thời Tổng thống Nixon ?

Vụ việc thứ 2 đó là vụ lên tiếng về việc Hải quân Trung Quốc dùng súng xua đuổi bà con ngư dân Quảng Ngãi vào tránh bão tại một hòn đảo của quần đảo Hoàng Sa; không những thế khi bão tan họ còn cho lính lên tàu đánh đập, cướp bóc tài sản của ngư dân, những phương tiện thiết yếu của nghề đi biển…

So với vụ cảnh sát Mỹ đánh đập 1 sinh viên, vụ này Bộ Ngoại giao lên tiếng chậm hơn nhiều và có vẻ miễn cưỡng khi lên tiếng.

Khác với vụ việc tại Mỹ, đây không phải lần đầu, hải quân Trung Quốc đã đe dọa, đã sử dụng vũ lực, hành xử theo lối “bắt cóc tống tiền” như đám hải tặc đối với bà con ngư dân Quảng Ngãi; hành vi này nằm trong chính sách uy hiếp và đe dọa dũng vũ lực trong việc tranh chấp chủ quyền biển đông; đây là hành vi có tính toán nằm trong chủ trương xuyên suốt được vạch ra bta từ Bắc Kinh đối với việc tranh chấp chủ quyền tren biển Đông.

Nếu so về tầm mức về sự nguy hiểm về an ninh quốc gia, chủ quyền và danh dự dân tộc thì vụ hải quân Trung Quốc giở trò hải tặc với bà con ta nguy hiểm hơn nhiều?

Thế mà Người phát ngôn Bộ Ngoại giao chỉ miễn cưỡng lên tiếng sau khi báo chí và một số cơ quan lên tiếng gay gắt, lên án hành vi vô nhân đạo và ngang ngược với bà con ngư dân Quảng Ngãi của Hải quân Trung Quốc.

Nếu xâu chuỗi một số động thái, một số phát ngôn của một số quan chức của Bộ Ngoại giao VN trong những ngày gần đây:

  1. Việc trả lời phỏng vấn Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc ( CRI ) của ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Đoàn Xuân Hưng: “Quan hệ giữa hai nước chúng ta ( Việt Nam và Trung Quốc ) hiện nay đang ở trong giai đoạn quan hệ tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ chúng ta, là một trong những giai đoạn rất tốt đẹp?”;

 

2. Trả lời phỏng vần Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc của ông Nguyễn Văn Thơ, Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm 60 năm quốc khánh Trung Quốc, trước sự hoành tráng của buổi lễ diễu binh với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất của Trung Quốc lần đầu tiên được trình diễn, ông Nguyễn Văn Thơ tỏ ra cảm kích: “Đây là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa, cũng là niềm tự hào của các nước châu Á trong đó có Việt Nam…”;

https://i2.wp.com/image.tin247.com/dantri/090904071415-466-490.jpg

3.Trang Website đối ngoại của Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh không đưa hình ảnh lãnh tụ nước mình là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà lại rước hình ảnh của ông Mao Trạch Đông và Quốc huy Trung Quốc lên giao diện của trang tin điện tử đối ngoại này ?

 ?

Chuỗi hành động của một số cơ quan và quan chức ngoại giao Việt Nam có là dấu hiệu cho thấy đường lối đối ngoại của Bộ Ngoại giao Việt Nam đang thiên về phía Trung Quốc chăng ?

Dư luận giới quan sát chính trị nghiệp dư Hà Nội đang tìm câu giải đoán cho câu hỏi này !

P.V.Đ

Đăng bởi: phamvietdaonv | 26.10.2009

Cá voi cứu ngư dân Việt Nam giữa bão tố

 Nghe tin bão, 2 chiếc tàu đánh cá của ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cấp tốc quay đầu với dự tính kịp về bCá voi cứu ngư dân Việt Nam giữa bão tố Nghe tin bão, 2 chiếc tàu đánh cá của ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cấp tốc quay đầu với dự tính kịp về bờ trước khi bão tới. Không ngờ bão đi quá nhanh, người thân của các ngư dân này không hy vọng họ còn sống sót. Bỗng 2 chiếc tàu xơ xác cập bờ an toàn. Họ kể lại chuyến vượt bão thần kỳ nhờ có những con cá voi giúp đỡ. Chuyện xảy ra đã hơn nửa tháng, thế nhưng khi kể lại, gương mặt Thuyền trưởng chiếc tàu đánh cá QNg 96307- TS Nguyễn Văn Lộc (52 tuổi) ở khu dân cư số 9, thôn Tây, xã An Vĩnh (huyện Lý Sơn) vẫn còn nguyên vẻ thất thần. Toàn bộ cuộc đối mặt với cơn bão số 9 hầu như còn in đậm trong trí ông. Tôi ngồi đắm mình nghe ông Lộc kể. Hai vị thuyền trưởng vui mừng vì vừa trở về từ cõi chết. Tàu của ông Lộc chuyên làm nghề lặn khơi xa. Chuyến ấy ra khơi với 15 thuyền viên, dự định 2 tháng sau mới quay về. Rời bến được 1 tuần, các thợ lặn mới chỉ thu hoạch được 1 ít hải sâm, ông Lộc dự định đi xa hơn mong có thu hoạch thì sáng 26/9 nghe đài báo bão. Khi ấy tàu đang ở tọa độ 15.5 độ Vĩ bắc, 114 độ Kinh đông. Lúc này bản tin dự báo cơn bão đang ở 123 độ Kinh đông. Tính toán trên bản đồ, ông Lộc thấy bão còn cách xa tàu mình hơn 500 hải lý, cầm chắc sẽ về bờ trước khi bão tới. Sáng ngày 27/9 ông Lộc cho tàu quay lại bờ, đến chiều thì tàu về đến vùng Gò Ngầm thuộc vùng biển Trung Sa. Tiếp tục cho tàu chạy đến sớm hôm sau thì cách đảo Bom Bay (quần đảo Hoàng Sa) 12 hải lý. Không ngờ cơn bão đi nhanh quá, chẳng bao lâu gió đã ập đến cực kỳ hung hãn. Không dám chạy tiếp, ông Lộc định cho tàu nấp vào đảo Bom Bay. Thế nhưng theo dự báo, cơn bão số 9 mạnh đến cấp 15 nên vị thuyền trưởng này lo ngại nếu trú được vào đó cũng chưa hẳn đã yên thân. Nhớ cơn bão năm ngoái, có 3 chiếc tàu cũng nấp ở đây nhưng vẫn bị bão đánh vỡ toác. Ông Lộc quyết định dấn ga chạy về hướng đảo Lý Sơn. Đến bây giờ ông vẫn cho rằng mình đã quyết định đúng. Sau 1 ngày đêm chuyển hướng, chạy đến tọa độ 13.8 độ Vĩ bắc,110 độ Kinh đông thì bão chặn đứng con tàu. Khi tàu chỉ còn cách bờ biển Quy Nhơn có 80 hải lý nữa thì tàu đứng hẳn, không thể nhích thêm tí nào. Ông Lộc đành cho neo tàu và hối thúc thuyền viên thả dòm dù để giữ thăng bằng. Thế nhưng 1 cái dòm dù không ăn thua trước cơn bão quá lớn, ông Lộc cho thyền viên đục rỗng đầu 1 cái phuy kèm neo thả xuống tiếp, 3 tiếng đồng hồ sau dòm dù rách toang như xơ mướp. Tàu chòng chành dữ dội, hầu hết thuyền viên mặt cắt không còn giọt máu, tinh thần suy sụp nghiêm trọng. Ông Lộc cố động viên anh em đục 2 thùng phuy nữa, thêm 2 cái neo thả xuống cộng với 3 chiếc lốp ôtô rồi liên tục đổ dầu diezel lên 2 bên mạn tàu. Theo kinh nghiệm dân gian thì sóng bủa vào gặp dầu sẽ trượt sang 2 bên chứ không “bổ” xuống tàu mình. Đến lúc này, mọi người trên tàu đều rũ rượi, vừa đói vừa khát. Không thể nấu cơm, mì tôm cũng ướt trôi lềnh bềnh, téc đựng nước ngọt 1.000 lít cũng bị bão đánh tan. Lúc ấy, không ai nói ra nhưng chắc trong lòng mỗi người đều đã nghĩ đến cái chết. Nghỉ hơi nhấp ngụm trà, đôi mắt nhìn xa xăm ra hướng biển, ông Lộc kể tiếp: “Cơn bão kéo quá dài, mọi nỗ lực giữ tàu thăng bằng đã bị sóng dữ phá tan. Trong lúc tưởng như cái chết đã cận kề thì tất cả những người trên tàu đều thấy “ông” (cá voi) xuất hiện. Một “ông” chắn trước mũi tàu, mỗi khi có con sóng ập tới là “ông” nhảy lên, dùng tấm thân không lồ đỡ không cho sóng vỗ vào tàu. Hai bên mạn tàu cũng có 2 “ông” khác kè thân vào nên tàu mới giữ được thăng bằng nếu không đã bị lật úp vài ba lần rồi. Khi ấy mọi người trên tàu đều quỳ mọp xuống, nhắm mắt lại xin “ông” che chở qua cơn hoạn nạn. Từ khi có các “ông” đến trợ giúp, con tàu như êm hẳn trong cơn bão quật. Đến 5 giờ chiều 29 bão vào bờ, mọi người đồng thanh ồ lên khóc vì còn sống rồi vái lia vái lịa tạ ơn các “ông”. Khi ấy chúng tôi mới hoàn hồn tìm cách gọi về bờ nhưng tất cả mọi phương tiện đều mất liên lạc. May quá cái radio còn dùng được, mở ra thì nghe đài đang đọc tên tàu mình thông báo mất tích”. Vợ ông Lộc, bà Võ Thị Nhậm (54 tuổi) mộc mạc: “Suốt mấy ngày liền tôi cứng miệng không nói được câu gì, chỉ biết cầu xin trời phật cho chồng con thoát bão. Thằng cháu cứ liên tục liên lạc di động với con trai tôi đang ở trên tàu để nghe tin ba nó. Chiều 29 bỗng dưng nó nghe máy bên kia có tín hiệu. Mừng quá nó cầm máy chạy sang nhà tôi. Mất sóng, nhưng tôi nghe máy bên kia tít tít là biết tàu không bị chìm, nếu tàu chìm làm sao máy điện thoại hoạt động”. Chiều 29 tàu ông Lộc thẳng tiến về Lý Sơn, đến 23 giờ ngày 30 họ đặt chân lên bờ. Ông Lộc tâm sự: “Khi đặt chân lên đất tôi mới biết mình còn sống, nhìn vợ con mà nghẹn cứng họng không nói được gì”. Kể xong chuyện mình, ông Lộc dắt tôi đến nhà ông Nguyễn Văn Thiện (33 tuổi), người cùng thôn và là người cùng cảnh ngộ, thuyền trưởng tàu QNg 6380 TS. Ông Thiện kể lại: “Tàu anh Lộc 200 CV còn suýt bị bão vật huống gì tàu của tôi chỉ có 75CV. Vì tàu nhỏ nên không đi xa bờ, chỉ lặn quanh quẩn quần đảo Hoàng Sa. Rời bến được 10 bữa thì nghe tin báo bão, sáng 27 tôi cho tàu chạy về Lý Sơn. Chiều hôm sau tàu chỉ còn cách Lý Sơn có 8 hải lý, chạy vài chục phút nữa là tới bờ nhưng bão ập đến, sóng to dữ dội, tàu không thể chạy thêm. Tôi cho dừng tàu, thả dòm dù và đổ dầu xuống biển. Khi ấy tôi cầm lái, liên tục xoay chuyển hướng mũi con tàu đâm thẳng về hướng con sóng ập đến chứ sóng đánh ngang mạn thì chìm ngay”. Mức tổn thất trong chuyến biển vừa rồi của ông Lộc là 200 triệu, của ông Thiện là 100 triệu, đó không phải là khoản tiền nhỏ, nhất là khi chỉ cách đây 3 năm, ông Lộc đã bị đắm 1 chiếc tàu bạc tỷ tại quần đảo Hoàng Sa. Đó là chưa kể 2 chiếc tàu giờ đã bị bão quật đến “tưa xơ mướp”, phải sửa lại khối tiền mới ra khơi trở lại được. Thế nhưng so với mạng sống của 29 con người, số tiền tổn thất trên trở nên “nhỏ rức”, không để lại chút muộn phiền nào trên gương mặt của 2 thuyền trưởng. Cả ông Lộc và ông Thiện cùng tâm sự: “Đã ở Lý Sơn là phải bám biển mới sống được. Vừa kể vừa đưa tay lên ngực vái với lòng thánh kính, ông Thiện nói như lên đồng: “Sáng ngày 29, sức chống chọi gần như đã kiệt quệ, anh em dù vẫn cố gắng nhưng sức chịu đựng của con tàu nhỏ trước cơn bão lớn có hạn nên mọi người đành nhìn nhau khóc, những thợ lặn trẻ tuổi đã gọi tên vợ con trong tiếng nức nở. Bỗng dưng chúng tôi thấy 1 “ông” rất khổng lồ từ xa bơi đến chắn trước mũi tàu, “ông” còn to hơn cả chiếc tàu của tôi. Ngoài ra 2 bên mạn thuyền còn rất nhiều “ông” nhỏ hơn cứ lượn quanh giữ tàu thăng bằng. Khi ấy anh em cũng khóc, nhưng là khóc mừng vì đã có “ông” đến cứu. Chiều tối ngày 29 biển yên dần, nhìn xuống thì không còn thấy “ông” nào. Các “ông” đã lặng lẽ bơi ra biển xa khi đã cứu chúng tôi thoát khỏi cái chết. Nếu không có các “ông” cứu giúp thì giờ tôi đã mất xác ngoài biển, bỏ lại người vợ với 3 đứa con nhỏ dại, 1 đứa còn đang nằm trong bụng mẹ”. Niềm vui đoàn tụ với gia đình và niềm vui chia sẻ của hầu hết người dân thôn Đông thức suốt đêm đón 2 con tàu trở về tại bến cảng đã như liều thuốc trợ lực khiến 29 thuyền viên không thấy mệt mỏi. Suốt đêm 30/9 họ ngồi với nhau để nghe những người trở về từ cõi chết kể chuyện được cá “ông” cứu sống.

Nguồn: http://www.baoquangngai.com.vn/channel/2024/200910/Ca-voi-cuu-ngu-dan-giua-bao-to-1911822/

Đăng bởi: phamvietdaonv | 23.10.2009

3.000 tỷ đồng cho sáp nhập Hà Nội

– Theo báo cáo Chính phủ gửi Quốc hội , số tiền mà Hà Nội chi cho công tác di chuyển, điều chuyển tài sản, tuyên truyền và một số nhiệm vụ phục vụ công tác điều chỉnh địa giới hành chính thành phố vào khoảng 50 tỷ đồng. Những người nông dân Hà Nội ở thôn 7 (xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất). Ảnh: Kiên Trung Ngoài ra, trong phạm vi dự toán ngân sách địa phương năm 2009, Hà Nội đã bố trí khoảng 3.000 tỷ đồng cho các địa bàn mới sáp nhập về thành phố để thực hiện các chính sách, chế độ và bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo thống nhất toàn thành phố. Cũng trong báo cáo này, Chính phủ đã đánh giá những ưu điểm và hạn chế sau một năm hợp nhất địa giới hành chính. Theo đó, trong thời gian mới hợp nhất, một số cán bộ, công chức vẫn còn thiếu tính chủ động, quyết liệt để xử lý các vấn đề mới phát sinh. Chính phủ nhận định, trong thời gian đầu, một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội chưa hiểu đầy đủ vị trí, vai trò, mục tiêu, tầm quan trọng của việc mở rộng địa giới. Vì vậy, việc hợp nhất trong một năm qua đã gặp một số khó khăn, vướng mắc. Dù từng bộ, ngành đã có phương án cụ thể nhưng khi liên quan đến vấn đề chung cần giải quyết thì hiệu quả phối hợp chưa cao. Bộ máy vẫn còn cồng kềnh, đội ngũ lãnh đạo cấp phó còn đông. Trong khi đó, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, công chức chưa cao. Vẫn còn hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết yêu cầu của tổ chức và công dân. Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo còn phức tạp. Một số bất cập khác cũng được chỉ ra, trên các lĩnh vực như thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nông nghiệp, quản lý văn hóa, y tế… Chính phủ cũng thừa nhận tình trạng xây dựng trái phép, trật tự quản lý đô thị, đất đai còn diễn biến phức tạp, nhất là với các địa phương mới hợp nhất về thủ đô. Ngoài những lý do chủ quan, Chính phủ đánh giá rằng, những hạn chế trên một phần là do sự khác biệt chính sách giữa các địa phương. Do điều kiện, thói quen, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức còn chưa đồng đều, đặc biệt do sự chênh lệch mức độ phát triển giữa các vùng. Trong báo cáo dài 15 trang, Chính phủ cũng dành hơn mười trang để khẳng định những thành tích khác về kinh tế, xã hội. “Với nhiều lợi thế khác của Thủ đô sau khi mở rộng, Hà Nội không những giữ vững mà còn phát huy vai trò là một thành phố trung tâm quan trọng nhất đất nước, có sức thu hút cũng như lan tỏa, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trong khu vực”, Chính phủ khẳng định. Nhiệm vụ trọng tâm của thành phố thời gian tới được nêu vắn tắt như sau: “Tiếp tục rà soát tinh gọn bộ máy; Điều chỉnh cơ cấu kinh tế; Đẩy mạnh quy hoạch quản lý đất đai; Tăng cường các biện pháp quản lý an ninh, tập trung tuyên truyền cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long”. •Lê Nhung 3.000 tỷ đồng cho sáp nhập Hà Nội Cập nhật lúc 08:58, Thứ Sáu, 23/10/2009 (GMT+7) , – Theo báo cáo Chính phủ gửi Quốc hội , số tiền mà Hà Nội chi cho công tác di chuyển, điều chuyển tài sản, tuyên truyền và một số nhiệm vụ phục vụ công tác điều chỉnh địa giới hành chính thành phố vào khoảng 50 tỷ đồng. Những người nông dân Hà Nội ở thôn 7 (xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất). Ảnh: Kiên Trung Ngoài ra, trong phạm vi dự toán ngân sách địa phương năm 2009, Hà Nội đã bố trí khoảng 3.000 tỷ đồng cho các địa bàn mới sáp nhập về thành phố để thực hiện các chính sách, chế độ và bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo thống nhất toàn thành phố. Cũng trong báo cáo này, Chính phủ đã đánh giá những ưu điểm và hạn chế sau một năm hợp nhất địa giới hành chính. Theo đó, trong thời gian mới hợp nhất, một số cán bộ, công chức vẫn còn thiếu tính chủ động, quyết liệt để xử lý các vấn đề mới phát sinh. Chính phủ nhận định, trong thời gian đầu, một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội chưa hiểu đầy đủ vị trí, vai trò, mục tiêu, tầm quan trọng của việc mở rộng địa giới. Vì vậy, việc hợp nhất trong một năm qua đã gặp một số khó khăn, vướng mắc. Dù từng bộ, ngành đã có phương án cụ thể nhưng khi liên quan đến vấn đề chung cần giải quyết thì hiệu quả phối hợp chưa cao. Bộ máy vẫn còn cồng kềnh, đội ngũ lãnh đạo cấp phó còn đông. Trong khi đó, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, công chức chưa cao. Vẫn còn hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết yêu cầu của tổ chức và công dân. Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo còn phức tạp. Một số bất cập khác cũng được chỉ ra, trên các lĩnh vực như thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nông nghiệp, quản lý văn hóa, y tế… Chính phủ cũng thừa nhận tình trạng xây dựng trái phép, trật tự quản lý đô thị, đất đai còn diễn biến phức tạp, nhất là với các địa phương mới hợp nhất về thủ đô. Ngoài những lý do chủ quan, Chính phủ đánh giá rằng, những hạn chế trên một phần là do sự khác biệt chính sách giữa các địa phương. Do điều kiện, thói quen, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức còn chưa đồng đều, đặc biệt do sự chênh lệch mức độ phát triển giữa các vùng. Trong báo cáo dài 15 trang, Chính phủ cũng dành hơn mười trang để khẳng định những thành tích khác về kinh tế, xã hội. “Với nhiều lợi thế khác của Thủ đô sau khi mở rộng, Hà Nội không những giữ vững mà còn phát huy vai trò là một thành phố trung tâm quan trọng nhất đất nước, có sức thu hút cũng như lan tỏa, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trong khu vực”, Chính phủ khẳng định. Nhiệm vụ trọng tâm của thành phố thời gian tới được nêu vắn tắt như sau: “Tiếp tục rà soát tinh gọn bộ máy; Điều chỉnh cơ cấu kinh tế; Đẩy mạnh quy hoạch quản lý đất đai; Tăng cường các biện pháp quản lý an ninh, tập trung tuyên truyền cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long”.

•Lê Nhung

Việc Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ ban hành những văn bản trái pháp luật vẫn thường xảy ra tại nhiều nước trong đó có Việt Nam. Nhân sự kiện Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 97/2009/QD-TTg cò nhiều điềm bất cập với các căn cứ pháp lý đã được Blog phamviedaonv chứng minh, xin trích đưa Mục 4 và Mục 5 của Chương I trong bài nghiên cứu Quyền lập quy của Chính phủ Liên bang Nga được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí do Văn phòng Quốc hội xuất bản; bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Đình Hào đang công tác tại Văn phòng Chính phủ để bạn đọc tham khảo việc xử lý các văn bản trái pháp luật ở nước Nga như thế nào…

P.V.Đ

4. Xem xét, xử lý các nghị định có dấu hiệu trái pháp luật Theo quy định tại khoản 3 Điều 115 Hiến pháp Liên bang Nga và Điều 32 Luật về Chính phủ Liên bang Nga thì các nghị định của Chính phủ trái Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, các sắc lệnh của Tổng thống có thể bị Tổng thống hủy bỏ. Đồng thời, các nghị định của Chính phủ có thể bị kiện ra Toà án Hiến pháp Liên bang để xem xét tính hợp hiến theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga, điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Hiến pháp liên bang số 1-FKZ ngày 21/7/1994 ”Về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga” (sau đây gọi tắt là Luật về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga)[8]. Các nghị định của Chính phủ thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án tối cao Liên bang Nga theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga[9]. Toà án tối cao Liên bang Nga không giải quyết các đơn yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của các nghị định. 5. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trái pháp luật Quy định tại đoạn thứ ba khoản 108 Quy chế làm việc của Chính phủ: ”Văn phòng Chính phủ gửi các chất vấn, các kiến nghị của thành viên Hội đồng Liên bang, của đại biểu Đuma quốc gia đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Chính phủ đến các cơ quan hành pháp liên bang thuộc quyền lãnh đạo của Tổng thống hoặc Chính phủ để chuẩn bị trả lời” đã bị một đại biểu Đuma quốc gia kiện ra Toà án tối cao liên bang vì trái với Điều 14 Luật liên bang số 3-FZ ngày 08/5/1994 ”Về địa vị của thành viên Hội đồng liên bang và đại biểu Đuma quốc gia”[10]. Theo đó, người có chức vụ nhận được chất vấn phải trả lời chất vấn bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn hoặc trả lời bằng hình thức khác theo sự thoả thuận với người đã chất vấn. Nhiều lần, các chất vấn của các đại biểu này gửi đến Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Chính phủ về các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Chính phủ đã bị Văn phòng Chính phủ gửi đến các cơ quan hành pháp liên bang để trả lời theo quy định tại đoạn thứ ba khoản 108 nêu trên. Căn cứ quy định tại các điều từ Điều 194 đến Điều 199 và Điều 253 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Toà án tối cao liên bang đã tuyên bố đoạn thứ ba nêu trên là không có hiệu lực kể từ ngày Quyết định số GKPI06-1355 ngày 15/02/2007 của Toà án tối cao liên bang[11] có hiệu lực pháp luật. Chính phủ có đơn kháng cáo lên Toà Phúc thẩm Toà án tối cao liên bang. Sau khi xem xét nội dung đơn kháng cáo, căn cứ quy định của pháp luật hiện hành và các quy định tại các Điều 360, 361 và 366 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, ngày 03/5/2007, Toà phúc thẩm đã ra Phán quyết số KAX07-151[12] giữ nguyên Quyết định số GKPI06-1355 ngày 15/02/2007 của Toà án tối cao liên bang. Vì vậy, ngày 31/7/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 492[13] sửa đổi, bổ sung đoạn thứ ba khoản 108 Quy chế làm việc của Chính phủ và có hiệu lực kể từ ngày 15/8/2007. ( Nguồn:http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/quyen-lap-quy-cua-chinh-phu-lien-bang-nga) iệc Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ ban hành những văn bản trái pháp luật vẫn thường xảy ra tại nhiều nước trong đó có Việt Nam. Nhân sự kiện Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 97/2009/QD-TTg cò nhiều điềm bất cập với các căn cứ pháp lý đã được Blog phamviedaonv chứng minh, xin trích đưa Mục 4 và Mục 5 của bài nghiên cứu Quyền lập quy của Chính phủ Liên bang Nga được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Thạc sĩ Nguyễn Đình Hào đang công tác tại Văn phòng Chính phủ để bạn đọc tham khảo việc xử lý các văn bản trái pháp luật ở nước Nga như thế nào… P.V.Đ 4. Xem xét, xử lý các nghị định có dấu hiệu trái pháp luật Theo quy định tại khoản 3 Điều 115 Hiến pháp Liên bang Nga và Điều 32 Luật về Chính phủ Liên bang Nga thì các nghị định của Chính phủ trái Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, các sắc lệnh của Tổng thống có thể bị Tổng thống hủy bỏ. Đồng thời, các nghị định của Chính phủ có thể bị kiện ra Toà án Hiến pháp Liên bang để xem xét tính hợp hiến theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga, điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Hiến pháp liên bang số 1-FKZ ngày 21/7/1994 ”Về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga” (sau đây gọi tắt là Luật về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga)[8]. Các nghị định của Chính phủ thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án tối cao Liên bang Nga theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga[9]. Toà án tối cao Liên bang Nga không giải quyết các đơn yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của các nghị định. 5. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trái pháp luật Quy định tại đoạn thứ ba khoản 108 Quy chế làm việc của Chính phủ: ”Văn phòng Chính phủ gửi các chất vấn, các kiến nghị của thành viên Hội đồng Liên bang, của đại biểu Đuma quốc gia đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Chính phủ đến các cơ quan hành pháp liên bang thuộc quyền lãnh đạo của Tổng thống hoặc Chính phủ để chuẩn bị trả lời” đã bị một đại biểu Đuma quốc gia kiện ra Toà án tối cao liên bang vì trái với Điều 14 Luật liên bang số 3-FZ ngày 08/5/1994 ”Về địa vị của thành viên Hội đồng liên bang và đại biểu Đuma quốc gia”[10]. Theo đó, người có chức vụ nhận được chất vấn phải trả lời chất vấn bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn hoặc trả lời bằng hình thức khác theo sự thoả thuận với người đã chất vấn. Nhiều lần, các chất vấn của các đại biểu này gửi đến Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Chính phủ về các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Chính phủ đã bị Văn phòng Chính phủ gửi đến các cơ quan hành pháp liên bang để trả lời theo quy định tại đoạn thứ ba khoản 108 nêu trên. Căn cứ quy định tại các điều từ Điều 194 đến Điều 199 và Điều 253 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Toà án tối cao liên bang đã tuyên bố đoạn thứ ba nêu trên là không có hiệu lực kể từ ngày Quyết định số GKPI06-1355 ngày 15/02/2007 của Toà án tối cao liên bang[11] có hiệu lực pháp luật. Chính phủ có đơn kháng cáo lên Toà Phúc thẩm Toà án tối cao liên bang. Sau khi xem xét nội dung đơn kháng cáo, căn cứ quy định của pháp luật hiện hành và các quy định tại các Điều 360, 361 và 366 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, ngày 03/5/2007, Toà phúc thẩm đã ra Phán quyết số KAX07-151[12] giữ nguyên Quyết định số GKPI06-1355 ngày 15/02/2007 của Toà án tối cao liên bang. Vì vậy, ngày 31/7/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 492[13] sửa đổi, bổ sung đoạn thứ ba khoản 108 Quy chế làm việc của Chính phủ và có hiệu lực kể từ ngày 15/8/2007. ( Nguồn:http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/quyen-lap-quy-cua-chinh-phu-lien-bang-nga)

NẾU ĐÚNG NHƯ THÔNG TIN ĐĂNG TRONG BÀI BÁO SAU ĐÂY THÌ MỘT SỐ BÁO SẼ BỊ PHẠT NẶNG VÌ THÔNG TIN SAI SỰ THẬT, GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG?!
  
(Chinhphu.vn) –  Những ngày qua, các cơ quan liên ngành ATVSTP TP. Hà Nội đã tiến hành kiểm tra các loại trứng gà, trứng gia cầm bày bán trong nội thành và  tại huyện Đông Anh, nơi được phản ánh là có việc sử dụng hóa chất để tẩy trắng trứng gà Trung Quốc, nhưng vẫn chưa phát hiện được cơ sở nào làm việc này cũng như tiêu thụ trứng gà được tẩy trắng như một số báo đã nêu.

Phần lớn trứng gà bày bán tại các chợ Hà Nội do các cơ sở
chăn nuôi gia cầm trong nước cung cấp

Đây là thông tin được Chánh Thanh tra Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Việt Cường khẳng định khi trao đổi với phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ về kết quả kiểm tra của đoàn thanh tra liên ngành. Chánh Thanh tra Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Việt Cường cho biết, tại huyện Đông Anh, địa bàn có số hộ kinh doanh trứng gà lớn của thành phố, tại thời điểm kiểm tra, cơ quan chức năng không phát hiện ra những vật dụng, hóa chất dùng để tẩy trắng trứng gà Trung Quốc thành trứng gà ta.

Về việc ngày 13/10, đoàn thanh tra đã tạm thu giữ khoảng 6.000 quả trứng các loại của cơ sở kinh doanh trứng của anh Nguyễn Văn Vinh – một trong 7 cơ sở kinh doanh trứng của thôn Đông  Ngàn (huyện Đông Anh), ông Cường khẳng định cơ quan chức năng đã làm theo đúng quy định, tại thời điểm kiểm tra, hộ kinh doanh chưa xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số trứng trên. Sau đó, khi chủ hộ  xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng minh rõ ràng nguồn gốc số trứng gà từ trang trại của ông Đồng Đạo Huy ở xã Cổ Loa (gà của trang trại này được tiêm phòng thú y đầy đủ) nên số trứng gà trên đã được trả lại cho hộ kinh doanh.

Khó có thể biến đổi trọng lượng, kích thước quả trứng gà

Theo phân tích của ông Nguyễn Việt Cường, trước thông tin của một số báo đang gây hoang mang cho dư luận,  cần phải phân biệt giữa việc làm sạch, tẩy trắng vỏ trứng gà với việc có thể biến trứng gà Trung Quốc, trứng gà công nghiệp thành trứng gà ta là hoàn toàn khác nhau. Việc tẩy trắng trứng gà công nghiệp thành trứng gà ta để lừa người tiêu dùng là rất khó, bởi trọng lượng và kích thước của hai loại trứng này khác hẳn nhau. “Trứng gà ta thường có trọng lượng tối đa là khoảng 40gam/quả trứng, trong khi trứng gà công nghiệp là từ 48-52gam/quả. Do vậy, nếu phân tích về mặt vật lý thì sẽ thấy khó có thể làm quả trứng nhỏ lại để biến trứng gà Trung Quốc thành trứng gà ta”, ông Cường giải thích.

Người dân không nên quay lưng lại với sản phẩm trứng gà, loại thực phẩm tốt cho sức khỏe

Trả lời câu hỏi liệu thuốc sử dụng để tẩy trắng vỏ trứng gà có thể gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng không, ông Cường một lần nữa khẳng định, cho đến thời điểm này cơ quan chức năng chưa hề phát hiện và thu giữ được loại thuốc nào sử dụng vào “công nghệ tẩy trứng” như một số báo phản ánh. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng vẫn sẽ tiếp tục tiến hành kiểm tra, nếu phát hiện cơ sở nào vi phạm sẽ xử lý nghiêm khắc và công khai để nhân dân biết.

Thông tin không chính xác sẽ gây hậu quả lớn

Ông Cường cho biết thêm, từ khi có thông tin dùng hóa chất tẩy trắng vỏ trứng gà, giá trứng gà và lượng trứng tiêu thụ trên thị trường giảm rõ rệt. “Tính riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện có khoảng 13 triệu con gia cầm, và tính trên cả nước có mấy trăm triệu gia cầm, bởi vậy, nếu thông tin không chính xác sẽ không chỉ ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ, gây hoang mang cho người dân mà thậm chí, còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống an sinh xã hội của hàng triệu người nông dân đang chăn nuôi, kinh doanh sản phẩm trứng gia cầm“, ông Cường lưu ý.

Theo khuyến cáo của ngành Y tế, người tiêu dùng không nên quay lưng với sản phẩm trứng gà, loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Khi mua sản phẩm trứng gà, người dân cần chú ý đến nguồn gốc sản phẩm, nên mua trứng gà ở những cơ sở đã được kiểm dịch thú y, cửa hàng tin cậy chứng minh được nguồn gốc sản phẩm rõ ràng, không nên mua hàng trôi nổi.

Minh Hằng

( Nguồn Chinhphu.vn )

Đăng bởi: phamvietdaonv | 20.10.2009

BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ

  VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI NĂM 2009    VÀ NHIỆM VỤ NĂM 2010

(do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày

tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII, ngày 20 tháng 10 năm 2009)

___________

 

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và các vị khách,

Thưa đồng bào, đồng chí,

Để chuẩn bị cho Kỳ họp quan trọng này của Quốc hội, sau khi tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã hoàn chỉnh và gửi trước đến các vị đại biểu Quốc hội Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2009 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010; Báo cáo kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2009, dự toán ngân sách nhà nước năm 2010, cùng với nhiều báo cáo chuyên đề khác[1]. Hôm nay, thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo với Quốc hội và đồng bào cả nước một số vấn đề lớn về tình hình kinh tế, xã hội      năm 2009 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2010. 

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI NĂM 2009

Chúng ta thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2009 trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến hầu hết các nước. Là một nền kinh tế có độ mở lớn, hội nhập sâu rộng vào  kinh tế thế giới, khủng hoảng và suy thoái đã tác động nghiêm trọng đến kinh tế nước ta, nhất là xuất khẩu, đầu tư, du lịch. Ở trong nước, hệ quả của các biện pháp kiềm chế lạm phát thực hiện trong năm 2008 cùng với thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra làm trầm trọng thêm những khó khăn yếu kém của nền kinh tế; các thế lực thù địch lại tăng cường hoạt động chống phá. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thường xuyên cập nhật thông tin, phân tích tình hình và ngay từ đầu tháng 10 năm 2008 đã có bước điều chỉnh mục tiêu hành động, trong đó xác định chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế cùng với việc kiềm chế lạm phát. Những tháng tiếp theo, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế phát triển rất nhanh và tác động tiêu cực ngày càng lớn. Trong suốt quý IV, Chính phủ đã thảo luận nhiều lần, tham khảo ý kiến của các chuyên gia để hình thành chính sách và giải pháp thích hợp. Đầu tháng 12/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, tại kỳ họp thứ 5, Chính phủ đã trình và được Quốc hội chấp nhận điều chỉnh mục tiêu tổng quát, trong đó chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ưu tiên ngăn chặn suy giảm kinh tế, một số chỉ tiêu cụ thể về kinh tế và ngân sách cũng đã được điều chỉnh. Đây là sự chuyển hướng quan trọng, kịp thời, đúng đắn và cũng rất khó khăn trước tình hình diễn biến rất phức tạp, thể hiện bước tiến mới về năng lực lãnh đạo, trình độ dự báo và khả năng phản ứng chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, sự ủng hộ và giám sát của Quốc hội, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng toàn dân toàn quân, của cộng đồng doanh nghiệp và sự điều hành quyết liệt của chính quyền các cấp, đến nay, tuy khó khăn, thách thức còn nhiều nhưng tình hình kinh tế, xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Trên cơ sở kết quả 9 tháng đầu năm và dự kiến mức thực hiện trong các tháng cuối năm, Chính phủ đánh giá tình hình kinh tế, xã hội năm 2009 như sau:

I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU

1. Ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá và tăng được nguồn lực đầu tư phát triển trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái 

Nội dung chủ yếu của Nghị quyết 30 là tập trung tháo gỡ mọi khó khăn để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, mở rộng thị trường nội địa, kích cầu đầu tư và hỗ trợ tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế làm giảm thu nhập và sức mua toàn cầu; cạnh tranh về giá trên thị trường là cạnh tranh gay gắt nhất. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất năm 2008 của nước ta đã hình thành ở mức rất cao, làm tăng chi phí vốn và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính phủ đã cân nhắc nhiều mặt và sau khi giảm lãi suất cơ bản xuống mức hợp lý, đã quyết định hỗ trợ lãi suất vay vốn lưu động 4%/năm, thực hiện từ tháng 4 đến hết tháng 12/2009 cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh; đến cuối tháng 9 tổng dư nợ cho vay thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất là khoảng 405 nghìn tỷ đồng (các doanh nghiệp ngoài nhà nước vay 84%, doanh nghiệp nhà nước vay 16%). Đồng thời đã giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đến nay đã bảo lãnh cho 1.110 dự án kinh doanh với tổng mức vốn được bảo lãnh là 8.365 tỷ đồng, số lượng chưa lớn nhưng là sự mở đầu quan trọng, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế rất cần thiết này. Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát đã chuyển được sự hỗ trợ của Chính phủ thành sức gia tăng của sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh, duy trì hoạt động và tạo thêm việc làm[2].Thực hiện các biện pháp để mở rộng thị trường, tăng thêm ngân sách và đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến thương mại, mặc dù giá hàng xuất khẩu giảm mạnh nhưng số lượng hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của nước ta đều tăng, thể hiện sự phát triển của sức sản xuất[3]. Riêng xuất khẩu gạo cả năm đạt khoảng 6 triệu tấn, mức cao nhất từ trước tới nay.

Mở rộng thị trường nội địa là một chủ trương được tập trung chỉ đạo. Đã triển khai cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Chính phủ đã bố trí ngân sách xúc tiến thương mại trên thị trường nội địa. Các hoạt động mở rộng thị trường trong nước đã được doanh nghiệp tích cực thực hiện, nhiều doanh nghiệp đã tổ chức đưa hàng Việt về nông thôn. Mặt khác để kích cầu tiêu dùng, đã miễn, giảm, giãn hoãn thời gian nộp một số loại thuế, với tổng số khoảng 20.000 tỷ đồng (miễn giảm 13.700 tỷ đồng, giãn là 6.300 tỷ đồng); hỗ trợ lãi suất cho nông dân mua máy nông nghiệp, vật tư phục vụ sản xuất, xây dựng nhà ở…; cho vay không lãi để phát triển hạ tầng thiết yếu trong nông nghiệp, nông thôn. Với các chính sách và giải pháp thiết thực đó, tổng giá trị hàng hoá bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ 9 tháng đầu năm 2009 tăng 18,6% so với cùng kỳ, ước tính cả năm tăng khoảng 20%, nếu loại trừ tăng giá vẫn tăng trên 10%, cao hơn năm 2008, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Các chính sách hỗ trợ nêu trên cũng làm giảm bớt nỗi vất vả của bà con nông dân, thúc đẩy cơ khí hoá nông nghiệp; lượng sản xuất và tiêu thụ máy kéo, xe vận chuyển, máy bơm nước, máy gặt đập liên hợp… tăng mạnh[4].

Đã tăng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, vào nông nghiệp và nông thôn, các công trình văn hóa xã hội, chủ yếu là y tế, giáo dục, xây dựng ký túc xá cho sinh viên và nhà ở cho người nghèo. Những công trình này đã góp phần tăng GDP trong ngành xây dựng, có tác dụng lan toả sang các ngành sản xuất và giải quyết một bước những khó khăn đã tồn tại nhiều năm. Để khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đã hỗ trợ lãi suất tín dụng đầu tư thời gian 2 năm; đồng thời tăng cường các biện pháp xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư từ nước ngoài và vốn viện trợ phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 2008. Trong điều kiện khó khăn việc tăng được vốn đầu tư toàn xã hội là rất có ý nghĩa cả trước mắt và lâu dài. Vốn đầu tư tăng thêm, thủ tục đầu tư, xây dựng có bước được cải tiến, nhất là sau khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản đã tạo thêm xung lực mới cho tăng trưởng. Đến hết tháng 9 tỷ lệ giải ngân đạt 67,3%, mức cao nhất trong nhiều năm lại đây.

Nhờ các giải pháp tổng hợp nêu trên, chúng ta đã sớm ngăn chặn được đà suy giảm. Các doanh nghiệp đã vượt qua được thời điểm khó khăn nhất, sản xuất được phục hồi và có bước phát triển, lao động được thu hút trở lại; 76 nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, tạo thêm trên 1,5 triệu chỗ làm việc. Từ quý II, giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng trở lại một cách ổn định, tháng sau cao hơn tháng trước[5], 9 tháng tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008 và dự kiến cả năm tăng khoảng 7,2%. Giá trị tăng thêm của ngành xây dựng từ âm 0,4% năm 2008 tăng lên 11,3% năm 2009. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ tăng khoảng 6,5%. Vượt qua thiên tai, dịch bệnh, nông nghiệp phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất 9 tháng tăng 2,6%, dự kiến cả năm tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) quý sau tăng cao hơn quý trước: quý I: 3,14%, quý II: 4,46%, quý III: 5,76%, 9 tháng đầu năm tăng 4,56% dự kiến cả năm tăng khoảng 5,2% đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra[6].

2. Bảo đảm được ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội

Để ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và không để lạm phát cao trở lại, đã nhanh chóng chuyển chính sách tài chính, tiền tệ từ thắt chặt sang thực hiện chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nới lỏng, linh hoạt, thận trọng. 

Mặc dầu phải giảm các khoản thuế, tăng chi cho kích thích tăng trưởng và an sinh xã hội nhưng nhờ sớm ngăn chặn được suy giảm, sản xuất kinh doanh phục hồi và có bước phát triển nên tổng thu ngân sách nhà nước               năm 2009 dự kiến đạt khoảng 390,65 nghìn tỷ, bằng 100,2% kế hoạch dự toán; bội chi ngân sách được khống chế ở mức 6,9% GDP. Tỷ lệ dư nợ quốc gia so với GDP khoảng 29,7%, vẫn trong giới hạn an toàn.

Thực hiện các biện pháp kiềm chế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, nhập khẩu giảm mạnh hơn xuất khẩu nên tỷ lệ nhập siêu giảm còn khoảng 16,5% so với 28,8% năm 2008. Các nhu cầu cơ bản về ngoại tệ được bảo đảm với tỷ giá tương đối ổn định. Dự trữ ngoại hối nhà nước vẫn duy trì ở mức bảo đảm 12 tuần nhập khẩu.

Việc thực hiện chính sách tiền tệ được giám sát chặt chẽ. Tổng phương tiện thanh toán ước tính cả năm tăng khoảng 25%; tổng dư nợ tín dụng tăng khoảng trên 30%. Tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3%; hệ thống ngân hàng bảo đảm được an toàn và có bước phát triển.

Giá cả tương đối ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng 4,11% so với tháng 12/2008, ước cả năm tăng khoảng 7%. Các mặt hàng xăng dầu, điện, than được chuyển sang cơ chế giá thị trường theo lộ trình, không gây xáo  trộn lớn.

Việc chủ động chuyển hướng điều hành các chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế được lạm phát ở mức chỉ bằng 1/3 của năm 2008.

3. Thực hiện có kết quả việc bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh vực văn hoá, xã hội có bước phát triển mới trong điều kiện kinh tế suy giảm

Đặc biệt coi trọng an sinh xã hội và quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách và những vùng khó khăn là nét nổi bật trong       năm 2009. Cùng với việc bảo đảm đủ nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện các chính sách, chương trình, dự án đã có, đã sửa đổi bổ sung và ban hành nhiều chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội mới như: hỗ trợ người nghèo ăn Tết và người lao động mất việc; trợ cấp khó khăn cho cán bộ công chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện; hỗ trợ khuyến nông, khuyến ngư ở địa bàn khó khăn; xây dựng các công trình cấp nước trên các đảo có đông dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; xây dựng ký túc xá cho sinh viên; chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp ở đô thị[7]; điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp…

Tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so với năm 2008. Chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ đồng. Trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn). Tổng dư nợ của 18 chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do              Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỷ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008. Các doanh nghiệp đã hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ đồng. Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, đến cuối năm còn khoảng 11%.

Các lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục có bước phát triển tích cực. Hệ thống pháp luật và các định hướng phát triển về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, khoa học công nghệ và môi trường tiếp tục được hoàn thiện. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá và thực hiện nhiều chính sách, giải pháp thích hợp để phát triển các lĩnh vực này.

Quy mô giáo dục, đào tạo các cấp học đều tăng[8]. Số học sinh bỏ học giảm 41% so với năm học trước. Có thêm 8 tỉnh đạt phổ cập trung học cơ sở, nâng số tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập trung học sơ sở lên 55. Kế hoạch xây dựng trường và nhà công vụ được triển khai tích cực[9]. Năm 2009, có trên 1,4 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn tín dụng ưu đãi (chiếm khoảng 30% học sinh, sinh viên), với tổng dư nợ khoảng 18.800 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi năm 2008.

Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ được đầu tư phát triển đồng bộ hơn, nhiều tổ chức hoạt động hiệu quả theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm hoặc cơ chế doanh nghiệp. Các khu công nghệ cao đang được khẩn trương xây dựng và bước đầu đã có sản phẩm[10]. Số lượng giao dịch mua bán công nghệ tăng khoảng 37%. Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh. Hạ tầng mạng được mở rộng và nâng cấp tạo điều kiện phủ sóng đến các vùng sâu, vùng xa, biển Đông và hải đảo. 9 tháng thuê bao điện thoại phát triển mới tăng 74,1% so cùng kỳ, nâng tổng số thuê bao toàn mạng đạt 113,6 triệu; số người sử dụng dịch vụ Internet là 22,4 triệu. Một số doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin đã đầu tư ra nước ngoài đạt kết quả bước đầu.

Đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tăng cường cán bộ y tế cho các tuyến dưới, nhất là các xã thuộc vùng khó khăn; đẩy mạnh xây dựng và trang bị kỹ thuật cho các cơ sở y tế[11]; chỉ tiêu về số giường bệnh và số bác sĩ trên 1 vạn dân đạt và vượt kế hoạch đề ra[12]; việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em được quan tâm; quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh được tăng cường; vệ sinh an toàn thực phẩm được coi trọng hơn. Có nhiều cố gắng trong việc thực hiện bình đẳng giới và bảo đảm các quyền của trẻ em. Văn hoá, thể thao có bước phát triển; hệ thống thiết chế văn hoá, công trình văn hoá quốc gia được quy hoạch và đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng; mức hưởng thụ văn hóa thông tin của nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa được nâng lên[13].

Công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng đất đai, tài nguyên, môi trường và việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm về môi trường có tiến bộ[14]. Việc xử lý chất thải y tế, chất thải đô thị, khu công nghiệp và xử lý ô nhiễm các lưu vực sông đạt được một số kết quả. Đã hình thành bước đầu kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng để làm căn cứ xây dựng các phương án ứng phó thích hợp[15]. Các cơ sở dự báo về khí tượng thuỷ văn được đầu tư nâng cấp. Công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai được quan tâm chỉ đạo.

4. Cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm đạt được những kết quả tích cực

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội cơ bản được hoàn thành, chất lượng và  tiến độ khá hơn. Các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc thống kê trên 5.700 thủ tục hành chính được thực hiện tại 4 cấp chính quyền. Chính phủ công bố cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên mạng internet. Lần đầu tiên các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố đã  công khai bộ thủ tục hành chính của Bộ, ngành, địa phương mình, thể hiện một bước tiến mới trong cải cách thủ tục hành chính. Mô hình một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin và tiêu chuẩn ISO trong giải quyết thủ tục hành chính đang được tích cực triển khai tại các cơ quan hành chính nhà nước. Các cuộc họp, đối thoại trực tuyến đã góp phần nắm bắt nhanh tình hình, tháo gỡ kịp thời hơn các vướng mắc và tiết kiệm chi phí. Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường được chuẩn bị chu đáo và triển khai thực hiện có kết quả. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện tiếp tục được rà soát, kiện toàn.

Đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để phòng chống tham nhũng và đạt được những kết quả thiết thực trên cả 2 mặt phòng và chống. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra và điều tra, xử lý các vụ tham nhũng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật[16]. Chính quyền các cấp giải quyết được khoảng 84% các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó có những vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài. Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai tích cực gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao 

Công tác quốc phòng và an ninh tiếp tục được coi trọng; bảo đảm chủ quyền quốc gia và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các lực lượng vũ trang nhân dân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố và tăng cường; xã hội đồng thuận; thực hiện tốt hơn dân chủ, tiến bộ công bằng xã hội và chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đã xử lý đúng pháp luật các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền, chính sách tôn giáo, dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết và gây mất trật tự an toàn xã hội. Công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội được quan tâm chỉ đạo và đã có những kết quả thiết thực.

Công tác đối ngoại đạt được kết quả khá toàn diện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế. Đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc, tạo điều kiện rất quan trọng để xây dựng biên giới Việt – Trung hoà bình, hữu nghị, hợp tác  cùng phát triển bền vững, lâu dài. Quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, các đối tác lớn có bước phát triển mới; đã ký kết và đưa vào thực thi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (VJEPA); tạo được bước phát triển sâu rộng hơn về hợp tác kinh tế với một số đối tác tại Trung Đông; mở rộng quan hệ với các nước châu Phi, Mỹ La tinh. Đảm nhiệm tốt vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc…

Kết quả đạt được sau gần 3 năm gia nhập WTO tiếp tục khẳng định sự đúng đắn của chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Chủ động hội nhập càng sâu rộng thì lợi ích tổng thể càng lớn, vừa mở rộng thị trường ngoài nước, vừa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Mặt khác, hội nhập cũng làm bộc lộ rõ hơn những bất cập, yếu kém và tính dễ tổn thương của nền kinh tế để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chúng ta càng nhận thức rõ hơn phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Trong khi khẳng định những kết quả tích cực nêu trên, cần nghiêm túc nhận rõ những hạn chế, yếu kém nổi lên là: 

1. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 thấp nhất trong 10 năm gần đây. Tăng trưởng chủ yếu vẫn theo chiều rộng, cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh còn thấp. Các doanh nghiệp và cả nền kinh tế chưa chuyển mạnh theo hướng biến thách thức thành cơ hội để cơ cấu lại sản xuất. Công nghiệp tuy đã vượt qua khó khăn, nhưng tăng trưởng vẫn ở mức thấp. Sản xuất nông nghiệp kém bền vững, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác còn rất thấp. Xuất khẩu và du lịch giảm mạnh. Tiêu thụ hàng hoá còn khó khăn. Một số chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch.

2. Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thật vững chắc. Việc điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối chưa thật linh hoạt, dẫn đến tình trạng găm giữ đô la, gây căng thẳng không đáng có và cán cân thanh toán tổng thể đã bị thâm hụt[17], trong khi nguồn ngoại tệ của đất nước vẫn khá dồi dào. Bội chi ngân sách tăng và chính sách tiền tệ nới lỏng luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trở lại. Việc quản lý và sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước cũng như vốn trong các doanh nghiệp nhà nước chưa thật chặt chẽ, hiệu quả còn thấp.

3. Kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và thể chế kinh tế thị trường chưa có bước cải thiện đáng kể, hiện vẫn là những điểm nghẽn của tăng trưởng. Môi trường kinh doanh chưa thật thông thoáng. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hiệu lực hiệu quả còn thấp. Năng lực và kinh nghiệm điều hành kinh tế vĩ mô vẫn còn hạn chế.

Mạng lưới giao thông chưa hoàn chỉnh, chất lượng thấp. Hệ thống thuỷ lợi chưa đồng bộ, hiệu quả quản lý và sử dụng chưa cao. Nguồn và lưới điện chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống. Hạ tầng đô thị, hệ thống cấp thoát nước vừa thiếu, vừa kém chất lượng, bị quá tải. Tình trạng ngập úng ngày càng tăng[18]. Quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị vẫn còn nhiều yếu kém.

Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục, đào tạo còn bất cập. Chất lượng nguồn nhân lực thấp. Năm 2009, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt khoảng 38%; cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn khoảng 51,7%. 

4. Do tác động của suy giảm kinh tế, việc bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội còn nhiều khó khăn. Chỉ tiêu tạo việc làm, xuất khẩu lao động không đạt kế hoạch, tỷ lệ lao động thất nghiệp thành thị tăng (4,66% so với 4,65% năm 2008). Quản lý nhà nước về lao động, nhất là lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chưa tốt. Đời sống nhân dân ở một bộ phận không nhỏ còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo và tái nghèo còn nhiều, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai, dịch bệnh. Một số chế độ, chính sách an sinh xã hội triển khai chậm, còn để xảy ra tiêu cực ở một số nơi. Tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng vẫn còn nghiêm trọng[19]. Nạn ma tuý, mại dâm, xâm hại trẻ em còn tăng ở một số địa phương.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân chưa được cải thiện nhiều. Xã hội hoá triển khai chậm; vẫn còn tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện, nhất là tuyến trung ương và tuyến tỉnh; việc ngăn chặn dịch bệnh nhất là sốt xuất huyết[20] hiệu quả chưa cao; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt.

Khoa học công nghệ chưa tạo được nhiều sản phẩm có giá trị nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh, bền vững. Xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường chuyển biến còn chậm, vẫn là thách thức lớn trong quá trình phát triển.

5. Kết quả cải cách hành chính vẫn còn thấp. Năng lực xây dựng thể chế còn yếu.Việc hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã có hiệu lực còn chậm[21]. Kết quả rà soát các văn bản hành chính cho thấy thủ tục hành chính của nước ta còn rất nặng nề, trong đó không ít những thủ tục phiền hà, không cần thiết, cần phải loại bỏ; chưa có cơ chế kiểm soát việc ban hành và thực hiện thủ tục hành chính. Năng lực tổ chức thực hiện còn kém, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, trung ương và địa phương trong điều hành chưa thật tốt. Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng. Kỷ luật kỷ cương chưa nghiêm. Khiếu nại, tố cáo vẫn còn nhiều, số lượng khiếu kiện đông người tăng hơn năm 2008[22].

Nhìn chung lại, năm 2009 là năm có rất nhiều khó khăn thách thức, nhưng nhờ sự đồng tâm hiệp lực của cả nước, tuy còn không ít hạn chế yếu kém, nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng, kinh tế đã thoát khỏi suy giảm và đạt tốc độ tăng trưởng khá, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ năm 2010.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI NĂM 2010

Theo nhiều dự báo, kinh tế toàn cầu năm 2010 sẽ có chuyển biến tích cực hơn, nhưng khó khăn còn nhiều, những tín hiệu phục hồi vẫn còn yếu, nhất là những nền kinh tế hiện là nguồn đầu tư và thị trường xuất khẩu lớn của nước ta. Kinh tế thế giới vẫn đang biến động phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó lường. Sau khủng hoảng, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và cải cách thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh hơn. Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường có thể sẽ được điều chỉnh lại. Cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và chiến lược thị trường của nhiều quốc gia sẽ có sự thay đổi. Chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng gia tăng. Tình hình đó đặt ra những vấn đề mới, tác động đến sự phát triển của nước ta.

Ở trong nước, những yếu kém vốn có của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng thấp trong năm 2009 sẽ còn ảnh hưởng nhiều mặt đến sản xuất và đời sống. Hậu quả nặng nề của thiên tai, nhất là cơn bão số 9 ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên phải mất nhiều thời gian và nguồn lực mới khắc phục được; thiên tai, dịch bệnh có thể còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch vẫn âm mưu phá hoại sự ổn định chính trị – xã hội của nước ta.

Năm 2010 cũng là năm nước ta diễn ra nhiều sự kiện chính trị, ngoại giao, lịch sử, văn hoá trọng đại. Việc tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn toàn quốc lần thứ XI, hội nghị cấp cao ASEAN và các ngày lễ lớn trong năm, trong đó có Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội sẽ là động lực tinh thần to lớn, cùng với những kinh nghiệm và kết quả đạt được của năm 2009 sẽ là điều kiện thuận lợi rất quan trọng để chúng ta vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2010 với mức cao hơn, lấy lại đà tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo.

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU 

1. Mục tiêu tổng quát

Tập trung mọi nỗ lực phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009; nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường sự  ổn định của kinh tế vĩ mô và ngăn chặn lạm phát cao trở lại; bảo đảm an sinh xã hội và  cải thiện một bước đời sống  nhân dân; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch 5 năm 2006 – 2010.

2. Các nhiệm vụ chủ yếu

Một là, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nội lực để đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.

Hai là, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu giảm nhập siêu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; giảm dần bội chi ngân sách và thực hiện chính sách tiền tệ phù hợp để ngăn ngừa lạm phát cao và nâng cao tính ổn định của kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh.

Ba là, tập trung sức phát triển nông nghiệp và nông thôn; đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới; phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả và bền vững; cải thiện một bước đời sống nông dân.

Bốn là, phát triển các lĩnh vực xã hội hài hoà với phát triển kinh tế; đẩy nhanh chương trình giảm nghèo vững chắc; tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng phúc lợi xã hội và an sinh xã hội; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

Năm là, tạo một bước tiến mới trong việc cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hạ tầng giao thông, tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

Sáu là, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ các nguồn lực và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước.

3. Các chỉ tiêu chính của kế hoạch năm 2010

a) Các chỉ tiêu kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,5% so với năm 2009; GDP theo giá thực tế khoảng 1.931 nghìn tỷ đồng, tương đương 106 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 1.200 USD.

Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 2,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 7%; khu vực dịch vụ tăng khoảng 7,5% so với năm 2009.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6% so với năm 2009.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng khoảng 41% GDP.

Tổng thu ngân sách nhà nước 456,4 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với ước thực hiện 2009.

Tổng chi ngân sách nhà nước 581,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so ước thực hiện năm 2009.

Bội chi ngân sách nhà nước 125,5 nghìn tỷ đồng, bằng 6,5% GDP.

Chỉ số tăng giá tiêu dùng khoảng 7%.

b) Các chỉ tiêu xã hội

Số tỉnh đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở: 63 tỉnh.

Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 12%; trung cấp chuyên nghiệp tăng 15%; cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 17%.

Mức giảm tỷ lệ sinh 0,2%o.

Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó đưa 8,5 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%.

Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống 18%.

Số giường bệnh trên 1 vạn dân là 27,5 giường.

Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người là 13,5 m2.

c) Các chỉ tiêu môi trường

Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: 83%.

Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch: 84%.

Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý: 70%.

Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom: 85%.

Tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý: 80%.

Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường: 45%.

Tỷ lệ che phủ rừng: 40%.

II. CÁC GIẢI PHÁP LỚN

1. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh sản xuất, phát triển dịch vụ; khẩn trương xây dựng đề án và thực hiện một bước tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Rà soát các quy định có liên quan đến tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là các thủ tục gia nhập và rút khỏi thị trường, thủ tục hải quan, kê khai và nộp thuế, góp phần tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích thích phát triển kinh tế đã đề ra trong năm 2009 theo đúng nội dung và thời hạn quy định; đồng thời ban hành các chính sách mới hướng vào việc tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh.

Trong khi thúc đẩy chuyển dịch mạnh cơ cấu của nền kinh tế, tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm, cần nhận thức đúng vai trò quan trọng và lợi thế lớn của nền nông nghiệp nước ta trong việc bảo đảm an ninh, ổn định xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu. Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tạo bước chuyển mới trong việc phát triển nông lâm ngư nghiệp bền vững cả về sức sản xuất, chất lượng, hiệu quả và thị trường tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nông dân; thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Chuyển mạnh các chính sách hỗ trợ tăng trưởng vào khu vực nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực này; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn. Rà soát lại quy hoạch và bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ để giảm chi phí sản xuất và thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, gắn với phát triển các mô hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và chương trình đào tạo nghề cho nông dân. Ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng và giá trị cao, nhất là giống lúa, ngô, cây ăn quả, thuỷ sản. Tăng đầu tư cho bảo quản, chế biến các loại nông lâm thuỷ sản, giảm tổn thất, tăng giá trị xuất khẩu. Đẩy mạnh trồng rừng, gắn với bảo vệ rừng và thực hiện các chính sách hỗ trợ để người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Xử lý nghiêm và ngăn chặn tình trạng phá rừng. Chú trọng xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở những vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, quan tâm đầu tư cơ sở hậu cần nghề cá, bảo đảm phòng tránh thiên tai, tăng hiệu quả của đánh bắt xa bờ.

Hoàn thiện cơ chế điều hành xuất khẩu gạo theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm tăng hiệu quả xuất khẩu, tiêu thụ hết lúa hàng hoá với giá có lợi cho nông dân, giữ vững an ninh lương thực và bảo đảm giá gạo trên thị trường trong nước ở mức hợp lý.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng. Chuyển dần từ công nghiệp gia công lắp ráp có giá trị gia tăng thấp sang công nghiệp chế tạo; phát triển công nghiệp tạo mẫu trong các ngành có lợi thế để có thể tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao, có lợi nhuận lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phát triển nhanh công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp cơ khí, từng bước hình thành các cụm nhóm sản phẩm. Tăng nhanh năng lực chế tạo thiết bị và thiết bị đồng bộ phục vụ cho các ngành xi măng, phân bón, điện, đóng tàu và các thiết bị nổi, cơ khí phục vụ nông nghiệp… Điều chỉnh lại cơ cấu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo, các lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra năng lực xuất khẩu mới. Hiện đại hoá ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp, hình thành các đơn vị xây lắp mạnh đáp ứng nhu cầu trong nước và đấu thầu quốc tế.

Hoàn thiện cơ chế quản lý và cải tiến thủ tục đầu tư, phân cấp mạnh về quyền hạn và trách nhiệm cho người quyết định đầu tư và chủ đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ triển khai, thi công các công trình, ưu tiên cho các công trình điện, hạ tầng giao thông, đô thị, trước hết là ở những vùng có dung lượng hàng hoá lớn, bảo đảm tính đồng bộ và khả năng kết nối các phương thức vận tải, giải toả nhanh các điểm nghẽn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá. Thực hiện các giải pháp khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo các phương thức khác nhau; tranh thủ nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA), đặc biệt là các nguồn có ưu đãi cao. Quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ và vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, khắc phục đầu tư dàn trải, chống thất thoát và lãng phí, bảo đảm chất lượng công trình.

Phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải, du lịch, dịch vụ tư vấn. Tăng cường quản lý thị  trường bất động sản, bảo đảm phát triển lành mạnh, bền vững. Khuyến khích đầu tư vào dịch vụ logistic để giảm giá thành vận tải và chi phí phân phối. Mở rộng thị trường nội địa, coi trọng thị trường nông thôn. Đa dạng hoá các kênh phân phối, phát triển các mô hình kinh doanh hiện đại kết hợp với các mô hình truyền thống. Tạo lập mối liên kết giữa nhà sản xuất với tổ chức phân phối để hình thành những kênh lưu thông hàng hoá ổn định, góp phần quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong suốt quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng, nâng cao uy tín của hàng Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu và du lịch, tích cực khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do, tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm dần nhập siêu. Thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Khẩn trương xây dựng và thực hiện một bước đề án tái cấu trúc nền kinh tế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và giá trị nội địa của từng sản phẩm và của toàn bộ nền kinh tế. Thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp, xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc. Coi việc tăng giá trị nội địa và xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc là phương hướng chủ yếu để nâng cao tiềm lực và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế. Khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là các công ty cổ phần để loại hình doanh nghiệp này ngày càng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân. Đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nước; hoàn thành việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; đề cao vai trò và trách nhiệm của chủ sở hữu Nhà nước trong việc định hướng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp Nhà nước, trước hết là các tập đoàn và Tổng công ty phải đi đầu trong việc đổi mới công nghệ và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn lực phát triển. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, từng bước hình thành những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ, có thương hiệu mạnh, có khả năng cạnh tranh quốc tế và tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

2. Điều hành linh hoạt, thận trọng chính sách tài chính, tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa tái lạm phát cao và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu; quản lý và tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển có hiệu quả và bền vững, trở thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế, bảo đảm an toàn hệ thống. Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá linh hoạt trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại và các kênh đầu tư khác nhằm khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.

Thực hiện các biện pháp tăng thu, chống thất thu, kiên quyết thu hồi nợ đọng, phấn đấu đạt và vượt dự toán thu. Quản lý chặt chẽ chi ngân sách, bảo đảm chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả; giảm dần bội chi ngân sách. Tăng cường công tác quản lý giá, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu; đấu tranh chống mọi hiện tượng đầu cơ nâng giá. Tiếp tục lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng xăng dầu, điện, than… theo cơ chế thị trường. Quản lý nợ quốc gia. Nâng cao tính ổn định của kinh tế vĩ mô.

3. Bảo đảm tốt an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường

Tiếp tục thực hiện các chính sách, chương trình, dự án về an sinh xã hội hiện có. Nghiên cứu ban hành hệ thống các chính sách, chương trình mới áp dụng trong năm 2010 và giai đoạn 2011 – 2015. Tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ thiết thực cho nhân dân các vùng bị bão lũ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống. Tăng cường năng lực thực thi các chính sách an sinh xã hội cho cán bộ cơ sở gắn với việc thực hiện cơ chế giám sát của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của người dân, bảo đảm các chế độ, chính sách được thực hiện có hiệu quả.

Nhà nước tăng đầu tư và đa dạng hoá các nguồn lực, các phương thức giảm nghèo, coi trọng hỗ trợ và khuyến khích người nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo, bảo đảm giảm nghèo vững chắc. Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả chương trình hỗ trợ giảm nghèo, nhất là tại 62 huyện nghèo. Hoàn thiện cơ chế và đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo và nhà ở xã hội. Điều chỉnh lương tối thiểu trong các doanh nghiệp từ đầu năm 2010; lương tối thiểu chung lên 730.000 đồng/tháng từ 01/5/2010. Ban hành chính sách trợ cấp mất sức lao động. Làm tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Chủ động phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm số vụ và số người chết, bị thương do tai nạn giao thông.

Phê duyệt và triển khai thực hiện Chiến lược, các chương trình, đề án về phát triển giáo dục, đào tạo[23]; Nhà nước tăng đầu tư và huy động nguồn lực của xã hội để phát triển nhanh nguồn nhân lực, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, chuyên gia và công nhân kỹ thuật. Tập trung đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở các cấp học, bậc học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và học ngoại ngữ trong nhà trường. Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Hoàn thiện cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước về quy hoạch phát triển và các quy chuẩn để bảo đảm chất lượng đào tạo, đồng thời phát huy quyền chủ động của các trường đại học cao đẳng và dạy nghề. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong giáo dục và đào tạo. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường, lớp đạt chuẩn, nhà công vụ và ký túc xá cho sinh viên.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ. Gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Phát triển thị tr­ường công nghệ, thúc đẩy hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tập trung đầu tư hạ tầng khoa học và công nghệ cho các trường đại học, viện nghiên cứu trọng điểm, đầu ngành, các cơ sở kiểm định về đo lường, chất lượng, hệ thống trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ tại các tỉnh, thành phố. Đẩy mạnh tiến độ đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả hai khu công nghệ cao Hoà Lạc và thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng các trung tâm ươm tạo công nghệ, tạo điều kiện để phát triển mạnh công nghiệp công nghệ thông tin và công nghệ cao trong sinh học. Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, hướng vào việc tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, làm cho khoa học công nghệ thật sự là động lực của tăng trưởng.

Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Tập trung triển khai các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, trong đó có Luật Khám chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế, Nghị quyết của Quốc hội về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng thêm nguồn lực cho công tác quan trọng này, phấn đấu đạt được những tiến bộ cụ thể trong năm 2010. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; đẩy nhanh việc xây dựng và nâng cấp các bệnh viện nhằm sớm giảm tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện hiện nay, ưu tiên cho các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh thuộc vùng khó khăn và các bệnh viện chuyên khoa; khuyến khích đầu tư phát triển các bệnh viện kỹ thuật cao. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh. Đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình. Thực hiện bình đẳng giới; tăng cường bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020. Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hoá lành mạnh; coi trọng văn hoá trong lãnh đạo, quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong thế hệ trẻ. Thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hoá. Tổ chức tốt các ngày lễ lớn trong năm, đặc biệt là Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, bài trừ các tệ nạn xã hội. Bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và xử lý đúng pháp luật các hành vi vi phạm. Mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng và quan tâm phát triển thể thao thành tích cao.

Tăng cường quản lý nhà nước về môi trường, hoàn thiện các tiêu chuẩn về môi trường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường. Làm tốt công tác bảo vệ môi trường ngay từ khi thẩm định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, các dự án đầu tư; giám sát chặt chẽ việc thực hiện để ngăn chặn ô nhiễm. Huy động các nguồn lực để đầu tư xử lý chất thải rắn, chất thải y tế, đặc biệt là tại các đô thị, khu vực tập trung đông dân cư, các làng nghề. Tiếp tục khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các lưu vực sông. Quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu, ngăn chặn nhập khẩu công nghệ và vật liệu gây ô nhiễm. Nâng cao chất lượng dự báo khí tượng thuỷ văn. Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là việc quản lý, khai thác các dòng sông với các nước có liên quan.

4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách để thúc đẩy hình thành nhanh và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường; hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, pháp luật phải nhằm xác lập quyền làm chủ của người dân và trách nhiệm của Nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm kỷ luật kỷ cương. Đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường; tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện chức năng phát triển. Nhà nước thực hiện quản lý bằng pháp luật, quy hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường, đồng thời chủ động can thiệp để khắc phục các mặt trái của cơ chế thị trường. Hoàn thành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010. Cắt giảm tối thiểu 30% các quy định hiện hành về thủ tục hành chính. Xây dựng bộ chuẩn quốc gia về thủ tục hành chính; tổ chức kiểm soát chặt chẽ việc ban hành và thực hiện các thủ tục hành chính ở tất cả các cấp chính quyền. Đẩy mạnh thực hiện Chính phủ điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Tiếp tục cải cách chế độ công vụ. Tổng kết chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2007 – 2010, xây dựng chương trình cho giai đoạn 2011 – 2015; đổi mới việc đánh giá, tuyển chọn, bồi dưỡng, bố trí cán bộ công chức và chính sách đãi ngộ nhằm phát hiện, thu hút cán bộ có phẩm chất và năng lực, thí điểm thực hiện cơ chế thi tuyển một số chức danh quản lý. Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và luân chuyển cán bộ, chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội Đảng và xây dựng chính quyền các cấp.

Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tập trung vào các giải pháp phòng ngừa, tăng cường tính công khai, minh bạch, đề cao vai trò giám sát của nhân dân và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng chống tham nhũng. Nâng cao năng lực phát hiện và kiên quyết xử lý đúng pháp luật các hành vi tham nhũng; khẩn trương điều tra, xét xử những vụ việc gây bức xúc trong nhân dân. Bảo vệ người phát hiện hành vi tham nhũng, khen thưởng người có thành tích trong phòng, chống tham nhũng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; xử lý kịp thời nghiêm minh các vụ việc vi phạm.

5. Tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; tăng cường sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang, chú trọng trang bị kỹ thuật và phương tiện tác chiến. Chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ; ưu tiên đầu tư cho các đơn vị tại các vùng trọng điểm, biên giới, hải đảo. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục thực hiện các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Chủ động xây dựng các Chương trình, đề án hợp tác thiết thực để đưa quan hệ với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, các nước lớn và các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu. Phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Tiếp tục vận động các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Đẩy nhanh tiến độ đàm phán và ký kết Nghị định thư về Phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và các văn kiện có liên quan khác với Trung Quốc, góp phần xây dựng khu vực biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế thương mại đầu tư với các nước, trước hết là các nước có nhiều tiềm năng. Chủ động tham gia xây dựng các định chế hợp tác đa phương. Thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế. Triển khai có hiệu quả Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (VJEPA). Tích cực đàm phán Hiệp định Đầu tư song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BIT); Hiệp định về đối tác và hợp tác với EU; phát huy vai trò quan sát viên đặc biệt trong đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (PPP). Thực hiện tốt vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Đại hội đồng nghị viện các nước    Đông Nam Á (AIPA), góp phần thiết thực tăng cường đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa các nước ASEAN.

Thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào ta ở nước ngoài cùng chung tay xây dựng quê hương đất nước.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Nhiệm vụ còn lại của những tháng cuối năm 2009 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 đặt ra là rất nặng nề; khó khăn thách thức ở phía trước là rất lớn; nhưng những thành tựu đạt được trong thời đoạn đầy biến động, phức tạp, khó lường của năm 2008 và 9 tháng đầu năm 2009 đã cho chúng ta có thêm niềm tin, nguồn lực và những kinh nghiệm quý báu. Phải làm tốt hơn nữa công tác chính trị tư tưởng, công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong cả hệ thống chính trị, trong toàn xã hội, cùng nhau chung sức chung lòng hành động, tất cả vì lợi ích và sự phát triển của đất nước.

Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự quản lý điều hành tổ chức thực hiện có hiệu quả của Nhà nước, sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng toàn dân toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đề ra cho năm 2009 và năm 2010, tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững trong kế hoạch kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015.

Nhận rõ trách nhiệm của mình trước đất nước, trước nhân dân, Chính phủ sẽ bám sát tình hình, nâng cao năng lực dự báo, hành động quyết liệt, sáng tạo và nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện tốt trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Rất mong nhận được sự ủng hộ và giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và đồng chí, đồng bào.

Xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội, đồng chí, đồng bào và các bạn./.


KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2009

VÀ DỰ KIẾN KẾ HOẠCH NĂM 2010

_________

 

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Chỉ tiêu QH

Ước TH 2009

Dự kiến 2010

1

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

%

5,0

5,2

6,5

2

Tăng kim ngạch XK

%

3

– 9,9

6

3

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP

%

39,5

42,2

41,0

4

Chỉ số giá tiêu dùng

%

< 10

7

7

5

Số địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Tỉnh

55

55

63

6

Tăng tuyển mới đại học, cao đẳng

%

11,4

9,2*

12

7

Tốc độ tăng tuyển mới trung cấp chuyên nghiệp

%

15,6

11,4

15

8

Tốc độ tăng tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề

%

18

18,2

17

9

Mức giảm tỷ lệ sinh

%0

0,2

0,2

0,2

10

Tạo việc làm

Triệu người

1,7

1,51

1,6

 

Trong đó: lao động xuất khẩu

Vạn người

9

7

8,5

11

Tỷ lệ hộ nghèo

%

12

11

< 10

12

Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

%

< 19

18,8

18

13

Số giường bệnh trên 1 vạn dân

Giường

26,85

27

27,5

14

Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người

m2

12,2

13,1

13,5

15

Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh

%

79

79

83

16

Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch

%

85

82

84

17

Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý

%

65

67

70

18

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị

%

82

82

85

19

Tỷ lệ xử lý chất thải nguy hại

%

65

65

20

Tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý

%

75

75

80

21

Tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn

%

65

43

45

22

Tỷ lệ che phủ rừng

%

39,8

39,4

40

 

 


[1] Gồm các báo cáo về: (1) Phương án phân bổ ngân sách trung ương và bổ sung ngân sách địa phương, (2) Công tác đối ngoại, (3) Quốc phòng, (4) An ninh, (5) Thi hành án, (6) Phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, (7) Giải quyết khiếu nại và tố cáo của công dân, (8) Phòng chống tham nhũng, (9) Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, (10) Quản lý vốn các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, (11) Dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất và Thuỷ điện Sơn La, (12) Dự án Đường Hồ Chí Minh, (13) Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, (14) Điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, (15) Kết quả thực hiện các gói “kích thích kinh tế”, (16) Đề án “tái cấu trúc nền kinh tế”, (17) Chương trình giảm nghèo…

[2] Trong 180 doanh nghiệp được khảo sát ở Đà Nẵng có 63,3% số doanh nghiệp được vay vốn ngắn hạn hỗ trợ lãi suất, trong đó 87% doanh nghiệp vay để duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh; 95% doanh nghiệp giảm được giá thành sản phẩm; 83,9% doanh nghiệp cải thiện được khả năng cạnh tranh; 90% doanh nghiệp giữ ổn định và tăng sử dụng lao động và theo kết quả khảo sát ở một số địa phương, ngân hàng thương mại cho thấy hỗ trợ lãi suất có tác động giảm chí phí vay vốn của doanh nghiệp từ 30 – 36%.

[3] 9 đầu năm 2009, về lượng xuất khẩu hạt điều tăng 6%, cà phê tăng 14,4%, chè tăng 21,7%, hạt tiêu tăng 52,1%, gạo tăng 34,1%, than đá tăng 2,4%, dầu thô tăng 8,6%, xăng dầu tăng 53,3%, cao su tăng 7%…

[4] Riêng Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2009, có sản lượng sản xuất và tiêu thụ máy kéo, xe vận tải tăng 84,77%; máy phun thuốc trừ sâu tăng 342,2%, máy bơm nước các loại tăng 159%; máy gặt đập liên hợp tăng 50,74%.

[5] So với cùng kỳ năm trước, tháng 1 giảm (-) 4,4%, tháng 2 tăng 2,5%, tháng 4 tăng 5,6%, tháng 5 tăng 6,8%, tháng 6 tăng 8,2%; tháng 7 tăng 7,6%; tháng 8 tăng 10,6%, tháng 9 tăng 13,8%.

[6] Việt Nam được đánh giá là nước có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực. Theo dự báo của ADB (công bố tháng 9/2009): năm 2009 Indonesia: 4,3%; Malaysia: -3,1%; Philippines: 1,6%; Thailand: -3,2%; Singapore: -5%; Việt Nam: 4,7%; các nước châu Á đang phát triển: 3,9%. Theo IMF (công bố tháng 10/2009): năm 2009 Indonesia: 4,0%; Malaysia: -3,6%; Philippines: 1,0%; Thaland: -3,5%, Việt Nam 4,6%.

[7] Năm 2009, có 263 dự án nhà ở (trên 205 nghìn căn hộ) cho người thu nhập thấp, 264 dự án nhà ở (14 triệu m2) cho công nhân khu công nghiệp, 88 dự án ký túc xá sinh viên và 177 dự án cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long được đăng ký và thực hiện; chi 2.058 tỷ đồng hỗ trợ làm nhà ở cho 126,4 nghìn hộ nghèo (trong đó, có 77 nghìn hộ nghèo thuộc 62 huyện nghèo).

[8] Năm học 2008 – 2009, số học sinh mẫu giáo và phổ thông đạt 18,9 triệu em, tăng gần 5%; tuyển mới đại học và cao đẳng tăng 9,2% (hiện nay vẫn đang tiếp tục tuyển sinh, tỷ lệ này có thể gần đạt mục tiêu kế hoạch), trung cấp chuyên nghiệp tăng 11,4%, cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 18,2%.

[9] Hai năm 2008 – 2009, triển khai xây dựng 45.533 phòng học và 13.221 nhà công vụ.

[10] Đến hết tháng 6/2009, cả nước đã có 2 khu công nghệ cao quốc gia (Hoà Lạc và thành phố Hồ Chí Minh), 8 công viên phần mềm, 12 khu nông nghiệp công nghệ cao, 17 phòng thí nghiệm trọng điểm, khoảng 100 viện nghiên cứu và 80 trường đại học cao đẳng có các hoạt động liên quan đến công nghệ cao.

[11] Trong năm 2009, khởi công xây dựng thêm 85 bệnh viện tuyến huyện và 16 bệnh viện đa khoa thuộc các tỉnh vùng núi, vùng khó khăn, các tỉnh mới chia tách.

[12] Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 27/26,85 kế hoạch, bác sỹ đạt 6,5/6,5 kế hoạch.

[13] Năm 2009, có thêm 81 công trình văn hoá, di tích lịch sử, danh thắng cấp quốc gia được bảo tồn và phát huy giá trị (tăng 28,6% so với năm 2008); xây dựng thêm khoảng 300 nhà văn hoá cấp xã (tăng 15% so với năm 2008). Đã có thêm 2 di sản văn hoá phi vật thể là Quan họ Bắc Ninh và Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Đến cuối năm 2009 dự kiến có 99% số hộ nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam, 98% số hộ xem được truyền hình Việt Nam.

[14] Năm 2009, ngành công an phát hiện, xử lý gần 2.000 vụ vi phạm về môi trường.

[15] Theo kịch bản, Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Thủ tướng đã chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu (công văn số 5319/VPCP-KTN ngày 05/8/2009); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng xong kế hoạch này cho toàn ngành.

[16] Tính đến hết tháng 9/2009, cả nước phát hiện 326 vụ việc với 816 đối tượng có hành vi tham nhũng; khởi tố điều tra 297 vụ với 680 bị can; truy tố 163 vụ với 391 bị can; tổng số tiền, tài sản tham nhũng đã tịch thu sung công quỹ là 39,97 tỷ đồng.

[17] Cán cân vãng lai dự báo thâm hụt khoảng 6,5 tỷ USD, cán cân vốn thặng dư khoảng 7,3 tỷ USD, cán cân tổng thể dự báo thâm hụt khoảng 1,9 tỷ USD.  

[18] Các thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng, Vĩnh Long bị ngập lụt nặng do triều cường. Thành phố Huế và các đô thị khu vực Trung bộ bị ngập do lũ; Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng bị ngập do mưa.

[19] 9 tháng đầu năm 2009, xảy ra 9.099 vụ tai nạn giao thông giảm 4,08 %; làm chết 8.057 người, giảm 1,15%, bị thương 5.726 người, giảm 7,05% so với cùng kỳ năm 2008.

[20] Tính đến 11/9/2009, cả nước có trên 57.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết (tăng 12,9% so với năm 2008), 44 trường hợp tử vong (giảm 10,2% so 2008).

[21] Đến hết tháng 8/2009, còn nợ 28 văn bản hướng dẫn thi hành các luật đã có hiệu lực từ 01/7/2009.

[22] Đến nay, tại 63 tỉnh, thành phố còn 1.924 vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc, kéo dài; số lượt đoàn đông người tăng 48,8% so với năm 2008.

[23] Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020; Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 – 2015; Đề án tổng thể về “Chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội đến năm 2015”; Đề án “đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020”; Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, cho bộ đội xuất ngũ.

* Hiện nay vẫn đang tiếp tục xét tuyển nguyện vọng 3, do đó có thể đạt chỉ tiêu kế hoạch.

.

 

 

Góp ý xây dựng của nhà văn Phạm Viết Đào.

Ngày 24/7/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg, ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ.

Nghiên cứu văn bản Quyết định 97, chúng tôi thấy quyết định đã căn cứ vào các cơ sở pháp lý sau đây để ban hành Quyết định này: Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ ngày 09 tháng 6 năm 2000; Căn cứ Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ… ?

Theo chúng tôi, phần căn cứ ban hành Quyết định 97 đã bỏ sót một căn cứ quan trọng, đó là căn cứ theo Điều 15 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ( Luật BHVBQPPL) được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 quy định: Quyết định là loại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng; loại văn bản này đã quy định các nội dung pháp lý sau đây mà Thủ tướng được phép ban hành trong văn bản quyết định:

“1.Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

2.Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước.”

Căn cứ vào quy các quy định này của Luật BHCVBQPPL, nghiên cứu nội dung Quyết định 97, chúng tôi thấy nội dung của Quyết định 97 không tương thích với nội dung một văn bản quyết định thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng.

Nội dung Quyết định 97 tương thích với một văn bản Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ; loại văn bản này thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Khoa học-Công nghệ…

Như vậy, nội dung văn bản Quyết định 97/2009/QĐ-TTg mà Thủ tướng đã ban hành đã chồng chéo thẩm quyền và chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ; theo quy định của Luật BHCVBQPPL thì đây mới là cơ quan có chức năng ban hành loại văn bản thông tư hướng dẫn những nội dung đã được nêu trong Quyết định 97 đã ban hành; loại nội dung  hướng dẫn thực hiện Nghị định 81/2002/NĐ-CP, là nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ…

Căn cứ vào nội dung được thể hiện trong Quyết định 97 đã ban hành thì: loại nội dung pháp lý này không thuộc phạm vi chức trách và thẩm quyền của Thủ tướng chịu trách nhiệm ban hành; mặc dù Thủ tướng là cấp trên của Bộ trưởng, loại nội dung này thuộc thẩm quyền, chức trách của Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ.

Quyết định 97 mà Thủ tướng ban hành không chỉ ” đá lộn sân” của Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ mà còn “đá lộn sân” chức trách của các cơ quan chức năng của Đảng. Thủ tướng mặc dù hiện đang là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị nhưng ông ký quyết định này theo chức trách Thủ tướng, do đó văn bản của Thủ tướng, có một vài chỗ thế chế những quy định của Đảng là không đúng chức trách của Thủ tướng.

Như vậy Quyết định 97 là một “cú đá lộn sân”, một sự bao biện chức trách trái các quy định của Luật BHCVBQPPL đã ban hành, do vậy Quyết định 97 không có hiệu lực pháp lý như một văn bản quy phạm pháp luật !

Để khắc phục sự cập kênh về mặt pháp lý này, chúng tôi kiến nghị:

1/ Thủ tướng hủy hoặc thu hồi Quyết định 97/2009/QĐ-TTg và chuyển giao cho Bộ Khoa học Công nghệ thể chế các nội dung trong Quyết định 97 bằng một Thông tư hướng dẫn riêng các quy định đã nêu trong Quyết định 97.

Chuyển nội dung Quyết định 97 thành một công văn hành chính của Thủ tướng yêu cầu, hướng dẫn Bộ Khoa học-Công nghệ triển khai khẩn trương theo tinh thần Thủ tướng, hướng dẫn thực hiện việc thể chế cụ thể Nghị định số 81/2002/NĐ-CP là nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và Công Nghệ.

2/ Để văn bản Thông tư hướng dẫn này chặt chẽ về mặt pháp lý, chúng tôi đề nghị Bộ Khoa học Công nghệ tham mưu cho Thủ tướng trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều sau của Hiến pháp 1992 và Luật Xuất bản, Luật Báo chí.

a/ Sửa đổi Điều 60 của Hiến pháp năm 1992 vì lý do:

Tại mục Điều 2, Mục 2 của Quyết định 97 có nội dung quy định các cá nhân thành lập các tổ chức khoa-công nghệ: “Chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ…”

Nếu muốn bảo vệ quy định pháp lý này, Chính phủ đề nghị Quốc hội bổ sung nội dung sau đây vào Điều 60 của Hiến pháp 1992 đã ban hành; hiện Điều 60 của Hiến pháp 1992 quy định:Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác.”

Nội dung sửa đổi bổ sung thêm vào Điều 60 của Hiến pháp 1992 đó là: “Nếu các ý kiến mang tính chất phản biện thì không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ…”

b/ Sửa đổi bổ sung Điều 69 của Hiến pháp 1992

 Điểu 69 của Hiến pháp 1992, hiện đang được quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”; nên bổ sung thêm vào Điều 69 thêm phần sau: “Các tổ chức nghiên cứu khoa học độc lập, do các cá nhân thành lập không có quyền này khi công bố các ý kiến mang tính phản biện.”

c. Cần sửa đổi bổ sung một số điều đã quy định của Luật Xuất bản, Luật Báo chí.

Theo các quy định hiện hành của Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Giám đốc các nhà xuất bản, Tổng Biên tập các báo là người chịu trách nhiệm và đang được giao quyền công bố các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khoa học; nếu các quy định đã được viết trong Quyết định 97 được áp dụng triệt để thì: các tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật nếu có nội dung dính dáng tới việc phản biện một vấn đề nào đó trong xã hội, bất kể đúng sai, Tổng Biên tập và Giám đốc Nhà Xuất bản đều nghiễm nhiên vi phạm những quy định như đã viết trong Quyết định 97, tức phạm luật ?

d. Cần bổ sung sửa đổi Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Nếu không muốn hủy, thu hồi Quyết định 97 thì Thủ tướng trình Quốc hội bổ sung vào Luật BHCVBQPPL thêm 1 điều khoản: Thủ tướng được quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của các Bộ trưởng khi xét thấy cần thiết.

e/ Thể chế, cụ thế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác trí thức

Điều cuối cũng cần được thể chế minh bạch, đó là Nghị quyết 8 của Bộ Chính trị ban hành năm 2008, trong đó có nội dung khuyến khích trí thức, văn nghệ sĩ tham gia phản biện các chính sách kinh tế-xã hội; Nên sửa đổi quy định về việc phản biện của trí thức, văn nghệ sĩ của Bộ Chính trị, giới hạn chỉ được thực hiện đối với các chính sách của Đảng; các nhà khoa học, văn nghệ sĩ không được phản biện công khai các chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước và Chính phủ !

                                                                                                                                     P.V.Đ

Đăng bởi: phamvietdaonv | 17.10.2009

HAI THỦ TƯỚNG VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC GẶP GỠ…

THEO BẢN TIN CỦA CHINHPHU.VN ĐƯỢC HIỂN THỊ DƯỚI ĐÂY, TẠI BUỔI GẶP GỠ GIỮA THỦ TƯỚNG VIỆT NAM NGUYỄN TẪN DŨNG VÀ THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC ÔN GIA BẢO, THỦ TƯỚNG VIỆT NAM NGUYỄN TẤN DŨNG  ĐÃ: “BÀY TỎ VUI MỪNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TỐT ĐẸP CỦA QUAN HỆ HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM-TRUNG QUỐC, ĐỒNG THỜI KHẲNG ĐỊNH ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM SẼ LÀM HẾT SỨC MÌNH ĐỂ CÙNG TRUNG QUỐC XÂY DỰNG QUAN HỆ HỢP TÁC ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN THEO PHƯƠNG CHÂM 16 CHỮ VÀ TINH THẦN 4 TỐT.”

ĐÂY LÀ PHƯƠNG CHÂM DO ÔNG GIANG TRẠCH DÂN TRƯƠNG LÊN KHI ÔNG CÒN LÀ TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC.

ĐỌC BẢN TIN CHINHPHU.VN, NGƯỜI ĐỌC KHÔNG THẤY THỦ TƯỚNG ÔN GIA BẢO DÁM NHẮC TỚI PHƯƠNG CHÂM NÀY, CHẮC ÔNG SỢ NGƯỢNG TRƯỚC NHỮNG VIỆC LÀM NGANG NGƯỢC, DÃ MAN CỦA THUỘC HẠ CỦA ÔNG TRÊN BIỂN ĐÔNG TRONG THỜI GIAN QUA…

QUA CỬ CHỈ NÀY CHO THẤY ÔNG ÔN GIA BẢO, THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC LÀ CON CHÁU CỤ KHỔNG, DO VẬY NÊN ÔNG CÒN CHÚT LIÊM SỈ CHĂNG ???

                                      Nhà văn Phạm Viết Đào.

( Chinhphu.vn) – Nhân dịp dự Hội chợ quốc tế miền Tây lần thứ 10 và thăm chính thức tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc), ngày 16/10/2009, tại TP Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp gỡ Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

 

Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng –

Ảnh Chinhphu.vn

 Việt Nam- láng giềng hữu nghị, đối tác quan trọng của Trung Quốc

Trong không khí hữu nghị, chân thành, thẳng thắn, hai Thủ tướng đã trao đổi ý kiến về tình hình quan hệ hai nước trong thời gian qua và đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung trong thời gian tới.Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhiệt liệt hoan nghênh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội chợ quốc tế miền Tây lần thứ 10 và thăm chính thức tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh; tin rằng chuyến thăm sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ hợp tác với các tỉnh miền Tây Trung Quốc.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định, Việt Nam là láng giềng hữu nghị, là đối tác quan trọng của Trung Quốc. Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc luôn luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Việt Nam.

Cùng  xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển tốt đẹp của quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam sẽ làm hết sức mình để cùng với Trung Quốc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhất trí phối hợp tổ chức thật tốt các hoạt động kỷ niệm trong Năm hữu nghị Việt – Trung 2010; tăng cường trao đổi và tiếp xúc cấp cao, thúc đẩy giao lưu giữa các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, nhất là giữa thế hệ trẻ hai nước, coi đây là những bộ phận cấu thành quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung. 

Hai Thủ tướng đã thống nhất một số biện pháp quan trọng về việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước – Ảnh Chinhphu.vn

Hai Thủ tướng đã thống nhất một số biện pháp quan trọng về việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước; quyết tâm duy trì mức tăng trưởng thương mại song phương, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đạt 25 tỷ USD vào năm 2010 mà lãnh đạo hai nước đã đề ra, đi đôi với việc từng bước cân bằng cán cân thương mại; đồng ý giao cơ quan hàng không hai nước sớm nghiên cứu việc mở đường bay trực tiếp giữa Việt Nam và Thành Đô để thúc đẩy hợp tác giao lưu kinh tế thương mại giữa Việt Nam và các tỉnh miền Tây Trung Quốc.

Hai Thủ tướng đánh giá cao việc hai nước hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền; yêu cầu các cơ quan hữu quan hai nước khẩn trương chuẩn bị để  ký Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về Quy chế quản lý cửa khẩu trước cuối tháng 12/2009, đồng thời xây dựng và sớm ký kết các thỏa thuận về hợp tác cùng khai thác du lịch ở thác Bản Giốc và về việc  tàu thuyền qua lại tự do ở cửa sông Bắc Luân trong năm 2010.

Hai Thủ tướng bày tỏ tin tưởng vấn đề trên biển sẽ từng bước được giải quyết phù hợp với quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật biển 1982 và tinh thần DOC; đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Hai Thủ tướng nhất trí phối hợp chặt chẽ, góp phần tích cực tăng cường quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhắc lại lời mời Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm Việt Nam vào thời điểm thuận lợi. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cảm ơn và vui vẻ nhận lời./.

Việt Đông

Ảnh: Nhật Bắc

Nguồn:http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Hai-Thu-tuong-Viet-Nam-va-Trung-Quoc-gap-go/200910/23349.vg

p

                                                     Phạm Viết Đào.

Trong quan hệ bang giao với ông lớn phương Bắc, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc cho đến khi ông Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn chấp chính thì đường lối đối ngoại, tức là cách ứng xử thường có cách ứng xử nhất quán: Thần phục giả và Tự cường thật; có thể chịu khó quỳ lạy để tránh binh đao nhưng cắt nhường đất là không !

Đối sách này xuất phát từ những nét đặc thù dị biệt trong quan hệ bang giao hai nước; trong tiến trình lịch sự do sự va chạm về quyền lợi dân tộc, đất đai lãnh  thổ, bản sắc văn hóa giống nòi nên đã xảy ra những thái độ cực đoan trong ứng xử, hai thái cực đó là: Thà làm quỷ nước nam hơn làm vương đất bắc; thái cực thứ 2 là thần phục hẳn, trở thành châu quận của Trung Quốc như một số bộ tộc trong cộng đồng Bách Việt; như thời kỳ 1000 năm bắc thuộc…

Hai thái cực đó ngẫm cho cùng đều không có lợi cho dân tộc nên từ thời Đinh đến Lê Duẩn đều đã chọn một phương cách khác để bảo toàn lãnh thổ, dân tộc, giống nòi và văn hóa bản địa, cha ông chúng ta đã chọn một giải pháp dung hòa khôn ngoan: Thần phục giả, tự cường thật…

Sự thần phục giả đó tồn tại tới mức hai bên còn có thể đóng kịch được với nhau thì duy trì, nếu thấy màn kịch chối quá, thối quá, cương quá thì đành phải: lành làm gáo, vỡ làm môi…

Từ thời Đinh cho đến thời ông Lê Duẩn làm Tổng Bí thư đã nhiều phen xuất hiện những vở kịch cương diễn ra dẫn tới mức tan kịch, kết cục về phía nhân dân tộc Việt Nam và cả nhân dân Trung Quốc phải hứng chịu bi thương: đã phải hy sinh nhiều của nhiều người nhưng cuối cùng thì đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn giữ được là “gáo” chứ không đến nỗi tan vỡ thành “môi”…Dây là một sự thật lịch sử.

Tinh thần, sức mạnh và khả năng tự cường dân tộc được thể hiện sắc nét trong bà thơ mang tính tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư…; Trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn; Trong Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi; Trong bài  hịch: Đánh cho để dài tóc…của Quang Trung năm 1789;  Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 và trong Lời kêu gọi 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong bài viết: Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi, giặc Trung Quốc xâm lược nhất định thất bại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ( Tạp chí Cộng sản tháng 3/1979 )…

Và khi cương lên để khẳng định được sức sống và sức mạnh tự cường rồi, cha ông chúng ta lại quay lại đối sách: thần phục giả-tự cường thật; các ông mãnh phương Bắc biết thừa cái cốt lõi của màn kịch bang giao được dàn dựng với đề tài: Thần phục giả, tự cường thật do các diễn viên Đại Việt thủ vai và dàn dựng này nhưng họ vẫn hảo hảo là do bởi tình thế, “Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế…” chứ họ đâu có ngu gì ?

Do vậy để diễn được màn kịch này đòi hỏi phía chúng ta phải có đủ khả năng khẳng định được sức mạnh tự cường, đủ khả năng nếu có va chạm, đụng độ thì có thể bị sứ mẻ nhưng gáo vẫn là gáo chứ không thể thành môi được thì màn kịch mới không tan, mới trôi được…

Do vậy, cái chính yếu không phải là ở tài đóng kịch mà ở khả năng bộc lộ khí cốt của sự tực cường rắn chắc và bền được đến đâu; người Việt chẳng đã từng đúc kết ra kinh nghiệm sống: mềm nắn rắn buông đó sao…

Để có được sự tự cường đủ sức bảo lãnh cho màn kịch cương không bị xóa: các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Hồ Chí Minh toàn chỉ dùng mỗi cách duy nhất: Dựa vào sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc; khi cả một dân tộc kết nối với nhau thành một khối thì: Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng…

Những việc cống nạp của ngon vật lạ, xưng vương, xưng thần với Thiên Triều xưa nay đều là những cử chỉ chính trị mang màu sắc “ thần phục giả”; việc Lê Lợi, Nguyễn Trãi mở đường cho quân Minh quay về mà không quyết sát; việc Quang Trung cho tổ chức ma chay linh đình đám lính Mãn Thanh chết trận tại Thăng Long, cử Quang Trung giả mang tượng vàng giống mình sang cống Càn Long chẳng qua cũng là những vở kịch cương dàn dựng theo đề tài thật giả mà thôi…

Ai đã có dịp ghé qua các bảo tàng và những nơi lưu giữ hiện vật quý  ở Trung Quốc, Bắc Kinh, chưa ai thấy một hiện vật quý nào được Trung Quốc đem ra trưng bày là những cống vật từ người vàng, ngà voi, tê giác… mà nhiều đời vua chúa Việt Nam cống tặng cả. Điều này chứng tỏ người phương Bắc biết tỏng cái giá trị rởm của các cống vật này nên họ chẳng lưu giữ và trưng bày làm gì…

Trong lịch sử phát triển chính sử có ghi lại một lần duy nhất để hòa thuận với phương bắc vua tôi nhà Mạc có các cử chỉ bị coi là hèn kém trước thế lực phương bắc. Điều này hiện đang được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư một bộ chính sử được hoàn thiện từ năm 1665 đời vua Lê Huyền Tôn.

Xin mở ngoặc, đây là cuốn sử được hoàn thiện vào thời Lê, do vậy những điều mà các nhà sử học hưởng bổng lộc vua Lê chép lại về những việc làm của của vua tôi nhà Mạc, một đối thủ chính trị của nhà Lê không thể không có chỗ thiên kiến, do vậy hậu thế cần phải lật lại, kiểm chứng qua nhiều nguồn thì mới cỏ thể rút ra được sự thật và bài học lịch sử.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ( NXB Văn hóa-thông tin 2004) viết tại trang 606:” Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với nhà Minh rằng con cháu họ Lê không còn ai thừa tự nữa, thuộc sứ đại thần là họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng… Đăng Dung sợ nhà Minh đem quân sang hỏi tội, bèn lập mưu căt đất dâng nhân dân 2 châu Quy Thuận và hai hình người vàng bạc cùng là châu báu của lạ vật lạ…”

Tại trang Trang 621, Đại Việt sử ký toàn thư viết tiếp:” Mùa đông tháng 11  ( năm Quang Hòa thứ 1 ), Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh qua trấn Nam quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ, đi chân không đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, dập đầu quỳ dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai quân dân quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc, lệ vào Khâm Châu, lại xin ban chính sóc, cho ấn chương và cẩn thận che chở giữ gìn để đợi đổi định. Lại sai Văn Minh và bọn Nguyễn Văn Thái, Hứa Tâm Tỉnh mang biểu đầu hàng đến Yên Kinh”…

Về sự kiện này bộ Minh sử quyển 321 chép: “( Cướp ngôi rồi ) qua 1 năm thì ( Mạc Đăng Dung) sai sứ sang cống đến thành Lạng Sơn bị đánh trở về”…Minh sử không chép có chuyện dâng đất 2 châu Quy Thuận để tạ tội?

Cuốn Minh sử quyển 32 chép:” Năm (Gia Tĩnh) thứ 19…bấy giờ Phương Doanh ( tức Đăng Doanh đã chết, Đăng Dung sai ngay sứ đi xin hàng. Tháng 11 đem cháu là Văn Minh cùng đầu mục bộ hạ 42 người, vào Trấn Nam quan, đầu tù chân đất, bò rạp dập đầu ở trước đàn để dâng biểu hàng. Bá Ôn thay lời chiếu xá cho. Lại đến quân môn bò rạp lạy lần nữa để dâng sổ sách về thổ địa quân dân và xin ban chính sóc để làm phiên thần mãi mãi”...

Đối chiểu 2 cuốn chính sử một của Trung Quốc viết từ thời Minh và một của Việt Nam viết cuối thời Lê, theo thiển ý của chúng tôi: Do vừa giành được ngai vàng từ tay nhà Lê, địa vị chính trị chưa vững nên nhà Mạc đã phải cầu hòa nhà Minh; lần thứ nhất cử sứ thần đi không được nhà Minh tiếp, còn bị đánh đòn nên lần thứ hai ông cháu Mạc Đăng Dung phải tự mình cởi áo, tự trói mình lên, một cử chị hạ mình ở mức thấp nhất để tránh không bị nhà Minh kiếm cớ đem quân sang xâm lược.

Đại Việt sử ký toàn thư chép ông cháu Mạc Đăng Dung dâng đất, Minh sử không chép có chuyện này, đây là một nghi án cần làm sáng tỏ?

Các tác giả biên soạn chú giải bộ Đại Việt sử ký toàn thư ngày nay cũng đã nêu vấn đề này ra:”Vả chăng hai châu Quy Thuận thì nhà Tống đã chiếm của nước ta từ thời nhà Lý. Hai châu Quy Thuận, Quy Hóa và châu Thuận An theo Trung Quốc địa danh đại từ điển nói rằng: Quy Hóa đời Tống trị sở tại huyện Nghi Sơn tỉnh Quảng Tây…”

Như vậy khả năng ông cháu Mạc Đăng Dung có quỳ lạy trước phủ nhà Minh, có dâng sổ sách nhân khẩu rởm, có dâng vàng và sản vật lạ còn nói nhà Mạc cắt đất dâng cho nhà Minh như Đại Việt sử ký toàn thư chép là chưa có cơ sở. Ông cháu Mạc Đăng Dung có hạ mình để tránh binh đao với nhà Minh nhưng không có chuyện cắt đất để cầu hòa. Tức là vua quan nhà Mạc cũng chỉ “ thần phục giả “…

Điều mà hậu thế đang lo ngại hiện nay là trong đám có chức có quyền định đoạn những vấn đề liên quan tới vận mệnh đất nước, tài nguyên đất nước đang có dấu hiệu một số kẻ đang hành xử ngược với những điều mà cha ông từng làm, họ đang: Thần phục thật, tự cường giả để được hoặc là làm vương đất bắc, hưởng bổng lộc do sự thần phục thật, tự cường giả này mà có… Đó là các ông như Nguyễn Văn Thơ, Đại sứ đương nhiệm của Việt Nam tại Bắc Kinh, ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Đào Duy Quát, Tổng Biên tập báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Dương Quang-Thứ trưởng Bộ Công thương và rất nhiều, rất nhiều ông nữa…

Dư luận cũng đang chờ xem chuyến thăm Tứ Xuyên sắp tới của đoàn Chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng dẫn đầu, liệu các vị có diễn tài được như tiền nhân cái màn kịch: Thần phục giả-Tự cường thật này không; các vị mà diễn ngược lại là gay go đấy ???

P.V.Đ

                                                    Phạm Viết Đào.

Nhờ giá dầu tăng đã tạo điều kiện tuyệt vời để ekip Putin-Medvedev hiện đại hóa nước Nga mà chẳng phải nhọc lòng tốn sức.” Tôi đã có lần tự hỏi, người ta đã làm gì với tỷ, tỷ đolar tiền bán dầu: Với khoản tiền bán dầu họ có đủ khả năng mua đứt

Điện Champs Élysées, phần còn lại của nước Pháp và cả Luân Đôn nữa…”Đó là câu trả lời mới nhất của Gorbachiop giành cho nhật báo Le Figaro…

Khi được hỏi: Liệu số tiền thu được do bán dầu đã được đem cải thiện điều kiện sống cho dân Nga? Ông Gorbachiop tiếp tục ngửa bài:” Trong nhiệm kỳ đầu của Vladimir Putin đã điều hành đất nước bình thường. Ông ta đã ngăn chặn được sự tan ra của nước Nga, ổn định tình hình để nước Nga không rơi vào thàm họa chính trị nguy hiểm. Với công việc này ông ta đã có chỗ đứng của mình trong lịch sử. Tôi không nhìn thấy những cố gắng địch thực của ông ta nhằm hiện đại hóa nước Nga, đây mới là vấn đề chính yếu. Trong khi đó Putin có đủ điều kiện để làm được điều này nhờ vào giá dầu tăng…” Ông Gorbachiop nhấn mạnh.

Khi được hỏi: nền chính trị-kinh tế của nước Nga liệu có phạm phải sai lầm bởi nạn tham nhũng đang hoành hành? Ông Gorbchiop cho rằng: ekip Putin-Medvedev chưa thành công trong cuộc chiến chống tham nhũng tại nước Nga mặc dù họ đã tống giam hàng loạt tỷ phú như Mihail Hodorkovski và đóng cửa tập đoàn IUKOS. Berezovski, một tỷ phú khác đã bỏ trốn khỏi nước Nga, còn tỷ phú Roman Abramovici thì sơ tán sang nước Anh với tài sản 14 tỷ USD…

 

Mihail Gorbaciov đã nói về các phương thức trộm cướp cấp nhà nước, cách thức mà những tỷ phú này đã chạm tay đến những nguồn tài nguyên khổng lồ của nước Nga. Phương thức trộm cướp cấp nhà nước bắt đầu hình thành từ năm 1995 với chiêu thức: Vay để hoạt động. Chính quyền Boris Elsin do cần nhiều tiền nên đã đi vay tiền của các tập đoàn kinh tế để trang trải các khoản chi tiêu. Để có thể vay được tiền, chính quyền đã phải cầm cố, bán rẻ những nguồn tài nguyên lớn cho các tập đoàn kinh tế; sự cưỡng đoạt cấp nhà nước đối với tài nguyên của nước Nga bắt đầu từ đó…

Phương thức trộm cướp cấp nhà nước đã tạo nên những quái vật 2 đầu kiểu như

Roman Abramovici: một cái đầu mafia, còn cái đầu kiên gắn với điện Kremlin. Abramovici đã thu được 3 tỷ USD chỉ bằng một phi vụ kinh doanh nhà máy thép EVRAZ. Khi Gorbaciov được hỏi đây đã là những hoạt động trộm cướp mờ ám cấp nhà nước lớn nhất trong lịch sử nước Nga chưa, chú gấu Misa Gorbachiop ngần ngừ không dám trả lời…

Trả lời phỏng vấn nhật báo Le Figaro, Gorbachiop cho rằng: ông đã ngăn không để chiến tranh thế giới thứ 3 nổ ra

Cựu Tống thống Liên Xô nhớ lại rằng vào năm 1985, sau cái chết của Konstantin Cernenko, tất cả các lãnh tụ của các nước cộng sản đã về dự đám tang tại Maxcova, Gorbachiop đã cảm ơn họ và hứa là sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Chúng tôi tuân thủ các cam kết nhưng các vị phải chịu trách nhiệm về nền chính trị của các vị.

Nếu lúc đó Liên Xô vẫn giữ chính sách can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác thì rất có thể đã xảy ra chiến tranh thế giới thứ 3. Vào giai đoạn đó, châu Âu là một kho đầy vũ khí hạt nhân với 2 triệu lính của 2 phía. Nếu Liên Xô có các hành vi can thiệp bằng quân sự thì tôi tin cả tôi cũng không tồn tại tới hôm nay’…
Gorbachiop đã công khai nói về nạn đám chính khách đang bắt tay chặt với Mafia, về sự phực tạp của các thế lực ngầm đang hủy hoại một trong những nhà nước có nguồn tài nguyên lớn nhất thế giới. Đám Mafia đỏ này sẵn sàng tra tấn, nhả đạn vào đầu những kẻ nào dám lên tiếng vạch trần chống lại chúng. Đám chính khách Mafia này đang chi phối từ chính trường nước Mỹ, nước Anh, Israel, Cộng đồng châu Âu, khu vực Bancăng, Nam Phi đến nước Nga…

Hiện nay tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đã trở thành thủ lĩnh dẫn dắt chính trị của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Đăng bởi: phamvietdaonv | 12.10.2009

Dùng axit tẩy trứng gà “Tàu” thành trứng gà ta

 
 
 
 
 Có rất nhiều hộ trong làng Đông Ngàn tham gia “hô biến” trứng gà Trung Quốc thành trứng gà ta. Mỗi ngày có tới cả triệu quả trứng “gà ta” từ ngôi làng ven đô này được tuồn vào thị trường Hà Nội để tiêu thụ.
Cả làng không ai dám ăn trứng gà

Nằm ven đê sông Đuống (chính xác hơn là ngã ba sông Đuống và sông Hồng), làng Đông Ngàn (xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội) cách trung tâm thành phố chỉ chừng hơn chục km. Vẻ bề ngoài ngôi làng cũng như bao miền quê khác của đồng bằng Bắc bộ, êm ả và tĩnh lặng.

Nhưng ở đằng sau cái vẻ bề ngoài tĩnh lặng ấy là cả một guồng máy nhộn nhịp với công nghệ “hô biến” trứng gà Trung Quốc thành trứng gà ta mà không nơi nào có thể bì kịp. Theo một số thợ tẩy trứng, có rất nhiều hộ trong làng tham gia tẩy trứng. Mà không chỉ rộ lên vài năm gần đây như báo chí đưa tin, thực tế nghề này đã có ở làng Đông Ngàn từ hơn…chục năm.

Trong vai một cặp vợ chồng về làng mua đất, chúng tôi lang thang “xâm nhập” vào từng con ngõ trong làng để tìm hiểu cái công nghệ kinh dị này. Khác với hình dung ban đầu của chúng tôi, trong làng không hề có mùi axít bốc lên nồng nặc, cũng không dễ tìm thấy những vỏ trứng rơi vãi trên đường làng, cống rãnh… điều ấy cho thấy người làng rất kín đáo khi tẩy trứng, họ hiểu rõ tác hại và sự vi phạm khi làm công việc này.

Đến khu vực cửa khẩu (lối đi từ trong làng ra bờ đê) có mấy quán hàng tạp hóa lèo tèo và mấy hàng thực phẩm nhỏ. Chúng tôi để ý chỉ có một số trứng vịt được bầy bán, tuyệt nhiên không có trứng gà, người làng hiểu quá rõ về cái gọi là trứng gà ta nên không ai ăn.

Một phụ nữ làng Đông Ngàn đang tẩy trứng.

 

Cả triệu trứng vào-ra làng mỗi ngày

Đang đứng ở cửa khẩu thì một chiếc xe ôtô tải loại 2,5 tấn đột ngột rẽ vào. Nhác thấy thùng xe chở đầy trứng, chúng tôi vội bám theo. Chiếc xe chạy sâu vào trong làng, đến một ngôi nhà mái ngói 3 gian có khoảng sân rộng thì dừng lại.

Không biết từ đâu, rất nhiều xe máy xuất hiện, nhanh chóng tham gia dỡ trứng xuống. Mỗi vỉ trứng có 30 quả, các vỉ lại được xếp chồng lên nhau cho dễ vận chuyển. Thật tài tình, nhiều chiếc xe máy chở trứng còn cao hơn đầu người lái, phóng qua phóng lại trong các con ngõ nhỏ. Tất cả số trứng gà trên xe ôtô đều là trứng gà Trung Quốc với màu nâu xỉn đặc trưng.

Theo những thông tin chúng tôi có được, đều đặn mỗi ngày (cả ngày và đêm) có từ 10-15 chuyến xe tải như thế này chở trứng gà Trung Quốc về làng. Mỗi chiếc xe tải chở 10 vạn trứng, nghĩa là có khoảng 1-1,5 triệu trứng về làng/ngày. Đó là còn chưa tính đến một lượng đáng kể xe máy cũng tham gia vận chuyển trứng vào-ra. Và rồi, cũng ngần ấy trứng sau các công đoạn tẩy rửa, hô biến thành trứng gà ta lại được chở ra khỏi làng, đưa sang thị trường Hà Nội tiêu thụ.

H.- một thợ tẩy trứng giấu tên tiết lộ cho chúng tôi hay: Trứng gà Trung Quốc là loại trứng chất lượng không cao. Con gà mẹ bị cho ăn loại thức ăn công nghiệp thúc đẻ 2 lần/ngày. Về đến làng, loại trứng này có giá thành khoảng 1.000 đồng/quả; tuy nhiên chỉ cần tẩy trắng thành trứng gà ta thì giá tăng gấp đôi: 2.000 đồng/quả.

“Cả Hà Nội này giờ đố ai tìm được trứng gà ta thật đấy”- H quả quyết- “Tất cả từ các chợ cho đến nhà hàng, siêu thị đều là trứng gà Tàu hết. Chính chúng em đóng gói nilon rồi đem nhập cho họ mà (?). Tính hết chi phí từ thức ăn chuẩn rồi đến chuồng trại… thì một quả trứng gà ta “xịn” phải có giá từ 3.800- 4.000 đồng, lấy đâu ra cái giá 2.000 đồng/quả”.

Tẩy trứng hay đầu độc người tiêu dùng?

Chất dùng để “hô biến” màu quả trứng đang từ nâu xỉn thành trắng be cho giống trứng gà ta là axít clo-hydríc, được người làng mua về từ khu vực Đức Giang (Gia Lâm, Hà Nội). Họ hòa với nước lã theo tỉ lệ nhất định, làm cho cả chậu dung dịch phồng bọt lên như giặt quần áo, rồi ngâm trứng gà Trung Quốc vào. Vài phút sau, từng quả trứng được lấy ra rồi dùng tay lau nhẹ, lau đến đâu thì như có phép thần kỳ đến đấy, cứ trắng nõn nà dần ra.

Rất đơn giản, chỉ cần vài cái chậu và một khoảnh sân bể nhỏ, từng hộ gia đình trong làng đều có thể tham gia tẩy trắng trứng. “Chiều tối trứng về làng, ra nhận rồi mang về nhà tẩy. Tùy theo nhu cầu bạn hàng, mỗi hộ có thể tẩy từ 1.000 quả cho đến cả vạn quả/ngày”- H cho hay.

Quay trở lại vấn đề vì sao người làng Đông Ngàn không ăn trứng gà- đơn giản vì họ biết chất axít dùng để tẩy trứng kia quá độc. Những chiếc khẩu trang của người ngồi tẩy trứng, thường sau một buổi làm thì đã cứng cả ra vì hơi axít bốc lên. Mùi của loại axít này hơi chua chua, ngai ngái rất dễ đau đầu. Nếu chẳng may đánh đổ ra sân (dù là đã pha loãng với nước lã để ngâm trứng) thì ngay lập tức khoảng sân ấy sẽ sùi bọt lên như bị ngâm ôxi già vậy.

Dưới sự ăn mòn của a-xít, vỏ quả trứng tẩy xong sẽ mỏng đi thấy rõ. Liệu a-xít có thẩm thấu vào trong quả trứng hay không thì chưa rõ, song chỉ cần cầm lên ngược sáng mà nhìn có thể thấy cả lòng đỏ phía trong, khi đập ra chảo thì độ nhớt bám vỏ gần như không có.

Rõ ràng, mua nguyên quả trứng gà Trung Quốc về ăn còn vừa rẻ vừa an toàn hơn loại “trứng gà ta” ngâm a-xít này. Còn nếu để thực sự an toàn thì chỉ có nuôi gà đẻ trong nhà mà thôi

Theo P.Thái (Vietnamnet)
Thưa  các bạn   Ngày 30/9, trong khi lực lượng hải quân Trung Quốc đã hành xử với bà con ngư dân Quảng Ngãi như những tên hải tặc thứ thiệt, không chỉ sử dụng súng ngăn không cho họ vào trú tránh cơn bão số 9 tại đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ; Thậm tệ hơn, hải quân Trung Quốc còn xông lên tàu của bà con ngư dân ta, giở những hành vi ác độc như: trấn cướp tài sản, những trang thiết bị đi biển như điện thoại, máy định vị như báo Sài Gòn Tiếp thị vừa đưa tin.

Thế nhưng sau đó 1 ngày, ngày 1/10/2009, Ngài Đại sứ Nguyễn Văn Thơ kính mến của chúng ta tại Bắc Kinh đã giành cho phóng viên Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc một buổi phỏng vấn, Ngài đã dùng những lời lẽ hoa mỹ trên cả tuyệt vời để ca ngợi sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc, ca ngợi tình hữu nghị Việt-Trung?

Trước sự hoành tráng của buổi lễ diều binh, ông Nguyễn Ngọc Thơ tỏ ra cảm kích: “đây là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa, cũng là niềm tự hào của các nước châu Á trong đó có Việt Nam “; ( Xin Ngài Đại sứ Nguyễn Văn Thơ chớ có loạn ngôn, cái gọi là niềm tự hào mà ngài nống lên ấy chỉ có thể có đối với nhà đương cục Bắc Kinh và của Ngài thôi, chứ chưa chắc của số đông người dân Trung Hoa; Xin Ngài đừng có nhân danh nhân dân châu Á, nhân dân Việt Nam và ngư dân Quảng Ngãi cất lên niềm tự hào này mà tội cho họ…)

Ngài Đại sứ Nguyễn Văn Thơ không chỉ cảm kích mà ông tỏ ra khá thuộc bài vở, thuộc những luận thuyết dối trá mà ông Hồ Cẩm Đào nêu ra: xây dựng một xã hội hài hòa, các mối quan hệ quốc tế hài hòa…

Để hài hòa Trung Quốc cho phát triển và phô trương lực lượng quân sự hùng hậu chưa từng thấy khiến cho nhiều quốc gia phải dè chừng, riêng ông Đại sứ Việt Nam lại không dấu nổi sự tự hào về sự lớn mạnh của các lực lượng quân sự Trung Quốc? Cùng với sự phô diễn này là những tuyên bố ngang ngược về chủ quyền lãnh thổ, những sự gây hấn trên biển, trên bộ không chỉ với Việt Nam thế nhưng ông Đại sứ Việt Nam lại coi đó là cử chỉ yêu hòa bình của Trung Quốc thế mới chết con người ta ?

Ngài còn cảm kích “Chúc đài ( Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc) thành công trong sự nghiệp của mình, mong rằng đài đưa tin nhiều hơn, tích cực hơn, làm sao góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Trung“; quan nghệ “hữu nghị” mà Ngà