Đăng bởi: phamvietdaonv | 01.08.2010

TRAO ĐỔI LẠI MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TRẬN CHIẾN 1984 TẠI 1509- THANH THỦY, HÀ GIANG

Blog Phamvietdaonv: Một Blogger có nick i_love_you, you_know? <i_just_want_to_say_love@yahoo.com cho biết, bạn là người tham gia biên soạn trang Website: quansuvietnam.net, cung cấp cho chủ Blog và đề nghị đưa một số thông tin sau đây; Đây là những thông tin nhằm để giúp bà con cư dân mạng có thêm thông tin từ phía Việt Nam về cuộc chiến xảy ra tại Cao điểm 1509 tại Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang năm 1984…

Lĩnh vực thông tin kể cả trên mạng là một cuộc chiến, do vậy nếu chúng ta không chủ động tìm cách công bố chúng ta sẽ bị tụt hậu, chúng ta sẽ bị hiểu sai.

Hiện nay về phía Trung Quốc, ngoài tiếng Trung Quốc, họ còn có những trang mạng bằng tiếng Anh, trong khi đó chúng ta ngay bằng thông tin bằng tiếng Việt cũng lại rất thưa thớt…

Trên tinh thần hướng tới và mong muốn tiếp cận sự thật, xin giới thiệu với bà con những ý kiến trao đổi lại loạt bài vừa qua, là loạt bài được sử dụng nguồn thông tin từ phía Trung Quốc và Nhật Bản…

Điều mong muốn cuối cùng đó là: các cơ quan chức năng, các nhà sử học cần sớm vào cuộc để ghi lại cho mai sau trang sử xác thực, dù cho là đau buồn nhưng không nên dấu này; một trong những trang sử đen tối, đẫm máu trong 60 năm quan hệ hữu nghị Việt-Trung.

Sắp tới Việt Nam sẽ tổ chức một lễ kỷ niệm trọng thể, hoành tráng cùng với những băng cờ khẩu hiệu, tiệc tùng và những cái ôm hôn theo đủ nghi thức ngoại giao nhân 60 năm 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao.

Lễ kỷ niệm trùng với dịp giải phóng Thủ đô khỏi ách thực dân Pháp và trùng với dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long…Có rất nhiều người băn khoăn: sự trùng hợp này có dụng ý gì không ?

Xin cảm ơn ý kiến trao đổi lại …

Ngã ba sông Lô-sông Miên, nơi tôi làm lễ đón linh hồn em tôi, liệt sĩ Phạm Hữu Tạo về quê…

Ý KIẾN CỦA MỘT BLOGGER ĐỀ NGHỊ ĐƯA LÊN MẠNG:

Mấy hôm trước tôi có gửi nhà văn 1 số chi tiết sai sự thật liệt sĩ. Hôm nay tôi xin đi sâu như sau:

1. Về bài viết “được sử dụng làm tư liệu giảng cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội-Đại học Phòng vệ- Cục phòng vệ Nhật Bản”: Xin được trao đổi lại một số thông tin sai sự thật sau:

+ Năm 1979 Hà Giang là hướng mà TQ tấn công yếu nhất, chỉ có 1 trung đoàn biên phòng cùng dân binh tập kích nhỏ lẻ vào 1 số điểm cao và đồn Công an vũ trang của VN giáp biên; phía VN cũng chỉ có 1 số đơn vị biên phòng, dân quân và bộ đội địa phương trung đoàn 122 đối phó lại như vậy.

Năm 1979 hoàn toàn không có chuyện TQ tung hàng quân đoàn với hàng trăm xe vào theo hướng Hà Giang để tiến về Hà Nội trong 1 tuần. Hướng tiến công chính của TQ năm 79 là Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Cả tài liệu của VN đều ghi nhận điều này.

+ Địa hình điểm cao 1509 ở phía VN rất hiểm trở, chỉ bố trí được bộ binh cùng 1 số hỏa lực cấp đại đội. Hoàn toàn không có chuyện đưa được pháo binh hạng nặng lên để mà tàn sát mấy quân đoàn TQ với mấy trăm xe. Muốn biết cụ thể hơn có thể liên hệ với CCB khanhhuyen ở sư đoàn 3 bên QSVN, người đã chiến đấu trên 1100 của 1509 hơn 1 năm.

+ Năm 1979 không có 1 đơn vị cấp sư đoàn nào trở lên của TQ bị tiêu diệt hoàn toàn. Thông tin “gần như toàn bộ các quân đoàn của quân khu Côn Minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ” là không đúng. Trên thực tế năm 1979 các quân đoàn của QK Côn Minh của TQ năm 1979 còn không thiệt hại nặng bằng các quân đoàn của QK Quảng Châu trên hướng Lạng Sơn, Cao Bằng. Ngay cả TQ cũng công nhận điều này.

+ Thông tin “Lão Sơn với cao độ 1422,2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người VN. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của VN sang TQ” là không đúng.

Ai học lịch sử cũng biết các triều đại phong kiến TQ khi xâm lược VN đều qua 2 con đường Lạng Sơn hoặc Lào Cai. Vùng Hà Giang cho đến tận thế kỷ 18, 19 vẫn còn chưa thực sự nằm trong kiểm soát của chính quyền trung ương VN. Hà Giang địa hình hiểm trở, giao thông cho đến tận bây giờ vẫn còn là khó khăn thì không thể là “huyết mạch”?

Do vậy tôi khẳng định đây là bài viết chỉ tham khảo số liệu TQ mà không đối chứng với thực tế.

2. Về cái gọi là “thông tin từ Nhật Bản…”:

- Tại sao chiến sự quy mô lớn bắt đầu từ tháng 4, 2 bên thường xuyên đụng độ, bắn pháo mà đến tháng 7 vẫn còn dân sống trực tiếp ngay trên trận địa? Đây là điều vô lý, không xác thực.

– Tại sao giữa lúc chiến sự ác liệt mà lính TQ lại phải kỳ công đi thu nhặt 3700 tử sĩ đối phương ở khắp nơi (trong đó có cả vị trí ở bên kia sông Lô, cách nhiều cây số) về chôn chung? Đào 1 cái hố đủ để chôn 3700 người trong lúc đang chiến đấu có phải là điều hợp lý không? Tại sao không chôn hay đốt tại chỗ ?

– Sư đoàn 313 không hề tham gia trận đánh 12/7/84, vậy tại sao có liệt sỹ Nguyễn Văn Nam ở sư đoàn 313?

- Tại sao tù binh bị bắt mà lính TQ không lục soát thu ngay nhật ký (QĐ nào cũng vậy, bắt tù binh là lập tức tước hết mọi vật dụng, giấy tờ trên người) mà còn để cho đến lúc sắp bị thiêu mới đem “gửi” lại?

- Tại sao người viết đã tiếp xúc với nhật ký mà không ghi lại và công bố nội dung bên trong để dễ tìm kiếm? Ít nhất cũng có thể đọc và nhớ những chi tiết quan trọng ?

– Tại sao người viết không ghi rõ địa chỉ nơi ở của những người TQ trên để dễ tìm kiếm?

Ngoài ra các CCB Hà Giang đã cho ý kiến rất nhiều về con số 3700 cũng như các sự kiện liên quan đến trận 12/7/84 ở đây: http://www.quansuvn.net/index.php/topic,17003.140.html . Tôi trích lại 1 trong các bài viết đó của 1 CCB ở tiểu đoàn 2, trung đoàn 876:

“Ngày xưa cũng vì đọc trên mạng thấy nói nhiều quá về vụ 3700 tử sỹ nên em mới đăng ký nick để nói lại cho rõ. Em cú nhất là đoạn TQ nói mình đi lấy tử sỹ đông người không chấp hành như truyền đơn nên chúng nó khai hỏa bắn chết hết. Không biết bên D3 E 876 sau 12-7 có phải đi lấy tử sỹ không chứ bọn em phải đi 5 đêm liền, mò vào tận sát cửa mở lấy hết anh em mình còn nằm lại đem về. Ngày đó lệnh trên là đi vào ban đêm và khi bọn em vào thì súng ống vẫn còn nguyên, lính TQ rát lắm không dám mò ra ngoài để nhặt vũ khí chiến lợi phẩm. Đêm nào chúng nó cũng bắn pháo sáng đề phòng ta tập kích, nhưng cũng phải công nhận là mấy hôm đấy TQ không bắn pháo nên bọn em đi lại cũng thoải mái.”

Mong nhà văn cho đăng bài viết này, như một phản biện từ những người nghiên cứu LS Quân sự VN. Tôi viết bài này không nhằn đả kích cá nhân ai, mà nhằm trả lại sự thật cho LS, như vậy mới thật sự là tôn trọng sự hi sinh của thế hệ đi trước.

Những tài liệu trên mạng hiện nay về giao tranh 84-88 có nhiều chi tiết chưa xác thực (do lấy từ nguồn Trung Quốc), không thể để giới trẻ đất nước đọc sử Tàu viết mà cứ ngỡ là sử Ta được.

From: i_love_you, you_know? <i_just_want_to_say_love@yahoo.com>

Chân ngọn núi được đặt tên là Cao điểm 772, nơi em trai tôi hy sinh-Ảnh: Phạm Viết Đào.

TÌM ĐƯỢC TRÊN MẠNG ĐOẠN MÔ TẢ LẠI TRẬN TẤN CÔNG LÊN CAO ĐIỂM 772, TRẬN EM TRAI CHỦ BLOG LÀ LIỆT SĨ PHẠM HỮU TẠO, TRUNG ĐỘI TRƯỞNG THUỘC ĐẠI ĐỘI 2, TIỂU ĐOÀN 1 CHỦ CÔNG, TRUNG ĐOÀN 876 ĐÃ HY SINH…

Hà Giang ngày đó, (tháng 6 năm 1984).

Thị xã Hà Giang vắng tanh. Đâu đâu cũng chỉ thấy bộ đội, rất nhiều quán nước chè treo biển “Phục vụ Bộ đội không tính tiền”.

Đơn vị chúng tớ (EBB153, F366) sang là trung đoàn sau cùng của sư đoàn sang tới Hà Giang, đóng quân tại xã Ngọc Đường, Huyện Vị Xuyên, tớ là Y tá C24, bệnh xá trung đoàn, do yêu cầu nhiệm vụ nên được điều về Đại đội chủ công C5-D2-E876 tăng cường đánh điểm cao 772 trong chiến dịch MB 84 (12 tháng 7 năm 1984).
Trước khi xuất quan, tiểu đoàn tờ được thiếu tướng Hoàng Đan, tư lệnh mặt trận tiền phương Quân khu 2 trao cờ quyết chiến Quyết thắng tại xã Phương Thiện để đem lên 772 cắm.

Tư trang hành quân gọn nhẹ, chủ yếu đạn dược và cơm gạo sấy, thịt hộp, có thứ quan trọng thì nhiều người quên là muối, hỉ toàn xin thủ kho mỳ chính. Lên đến nơi, trời mưa to ăn cơm gạo sấy với thịt hộp mà không có muối thì khó ăn vô cùng, đành phải xin lương khô bóp trộn lẫn vào cho dễ ăn.

Đêm 11 tháng 7 đơn vị hành quân lên cao điểm 772, 2 giờ sáng lên đến nơi vào vị trí tập kết, đào hàm ếch xong xuôi thì pháo ta bắt đầu bắn như giã gạo.

Trung đội cửa mở dùng DH10 (loại bộc phá ống) phá cửa mở nhưng đơn vị không xung phong lên được do sương mù vẫn còn dày đặc, TQ thả lựu đạn và bắn trả quyết liệt nên đơn vị không triển khai lên được.

Đại đội trưởng và trung đội của mở đánh lô cốt đầu cầu hy sinh gần hết, đại đội tớ do thương vong và không phát triển lên điểm cao được nên đến 10 sáng tiểu đoàn hạ lệnh rút quân xuống chân điểm để củng cố lực lượng.

Nằm dưới chân điểm cao đến chập tối mới rút về được, trên dường đi pháo sáng TQ bắn sáng rực trời, đến sáng ngày 13 tháng 7 mới rút về được lèn đá 468 nơi đơn vị trú quân.

Sau đó chúng tớ còn ở lại một thời gian để thu dọn chiến trường. Sau đó rút qua cầu treo Thanh Thủy sang sân bay Phong Quang trú  quân ở đó 01 tháng.

Sau đó đơn vị rút về nông trường Việt Lâm thì tớ được trả về đơn vị cũ, chuẩn bị tháng 10 năm 84 lên vây lấn 685….

( Đoạn này do Blogger có nick nguyen dinh thang viết )

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:MEDtNgdLCAcJ:www.quansuvn.net/index.php%3Ftopic%3D1361.120+%22Cao+%C4%91i%E1%BB%83m+772%22&cd=5&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

Tập tin:HaGiang1984small.jpg
Kích thước xem thử: 617 × 599 điểm ảnh

WIKIMEDIA MÔ TẢ VỀ CÁC CUỘC GIAO CHIẾN Ở CAO ĐIỂM 772 VÀ Ở THANH THỦY, VỊ XUYÊN:

Tại Hà Tuyên, trong tháng 4-tháng 7 năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn, gần cột mốc biên giới số 13. Núi Lão Sơn thực tế là một loạt các ngọn đồi chạy từ tây sang đông, từ ngọn đồi ở bình độ 1800 mét ở phía tây tới đồi bình độ 1200 mét ở phía đông. Ngọn đồi 1200 này phía Trung Quốc gọi là Zheyin Shan, và đây cũng là ngọn đồi duy nhất nơi chiến sự xảy ra ở phía đông sông Lô. Tất cả các cuộc giao tranh khác tại Vị Xuyên đều diễn ra ở phía tây sông Lô chảy vào Việt Nam.

Trung Quốc mở màn cuộc tấn công lúc 5 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1984 sau một đợt pháo kích ác liệt. Sư đoàn 40 thuộc quân đoàn 14 vượt biên giới theo bờ tây sông Lô, còn sư đoàn 49 (có lẽ thuộc quân đoàn 16 từ Quân khu Nam Kinh), tấn công và đánh chiếm đồi 1200.[10] Lực lượng phòng ngự Việt Nam bao gồm bộ binh từ sư đoàn 313 và khẩu đội pháo binh từ Lữ đoàn pháo binh 168 đành rút lui khỏi các ngọn đồi này.[11]

Quân Trung Quốc chiếm được ấp Na La và các đồi 233, 685, và 468[12], tạo nên một vùng lồi kéo dài khoảng 2,5km tại đồi 468 hướng về phía Việt Nam. Vị trí này được bảo vệ bởi vách đá dựng đứng có rừng bao phủ và dòng suối Thanh Thủy ở phía nam, chỉ có thể tiếp cận được bằng cách băng qua khoảng đất trống thung lũng sông Lô ở phía đông, và như vậy rất thuận lợi cho phòng ngự.[13] Tuy nhiên tại các nơi khác, chiến sự diễn ra giằng co từ ngày 28-4 cho tới 15-5, và các đồi 1509, 772, 233, 1200 (Zheyin Shan), 1030 (Đông Sơn) liên tục đổi chủ. Sau ngày 15 tháng 5, chiến sự tạm dừng, đến ngày 12 tháng 7 chiến sự lại bùng lên khi quân Việt Nam tổ chức tấn công tái chiếm các ngọn đồi này, rồi dừng hẳn, chỉ có các cuộc chạm trán hoặc đọ pháo lẻ tẻ.


Núi Bạc (nay là núi Giải Âm Sơn) bị Trung Quốc chiếm

Kết quả, quân Trung Quốc chiếm được một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, gồm 29 điểm trong lãnh thổ Việt Nam. Trong số các vị trí mà quân Trung Quốc chiếm được có các đồi 1509 (Lão Sơn), 772 ở phía tây sông Lô và các đồi 1250, 1030, Si Cà Lá (Núi Bạc mà Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn-Zheyin Shan) ở phía đông sông Lô[5]. Chiến sự diễn ra dọc tuyến biên giới dài khoảng 11km, nơi quân Trung Quốc chiếm được sâu nhất trong lãnh thổ Việt Nam là đồi 685 và đồi 468, nằm cách biên giới khoảng 2km.

Giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5km, dù quân đông hơn nhiều[14]. Theo tin tình báo Hoa Kỳ, Việt Nam không thành công trong nỗ lực tái chiếm các vị trí bị mất, và Trung Quốc chiếm được 8 ngọn đồi[15]. Theo công bố chính thức của Việt Nam, Việt Nam tuyên bố tiêu diệt một trung đoàn và 8 tiểu đoàn quân Trung Quốc, “loại ra khỏi vòng chiến đấu” 5.500 quân Trung Quốc[16]. Tới tháng 8, Việt Nam tuyên bố nâng tổng số quân Trung Quốc bị loại ra khỏi vòng chiến đấu đến 7.500 quân trong vòng 4 tháng[17] Trung Quốc tuyên bố loại khỏi vòng chiến 2000 quân Việt Nam, mất 939 lính và 64 dân công chết[18]

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:jij5Dvu3NlYJ:vi.wikipedia.org/wiki/Xung_%C4%91%E1%BB%99t_bi%C3%AAn_gi%E1%BB%9Bi_Vi%E1%BB%87t_Nam-Trung_Qu%E1%BB%91c_1979-1990+Tr%E1%BA%ADn+%C4%91%C3%A1nh+cao+%C4%91i%E1%BB%83m+772&cd=15&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

Chú thích:

10^ Ziwei Huanji, Counterattack in Self-Defense against Vietnam, B.P. Mahony, làm việc cho Phân cục Tình báo của Cảnh sát Liên bang Úc được tiếp cận các tài liệu mật, cho biết có ít nhất 3 sư đoàn quân Trung Quốc tham gia tấn công (B.P. Mahony, “Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson versus Stalemate,” trình bày tại cuộc họp ‘Asian Studies Association of Australia’ tại University of Sydney, 12–16 tháng 5, 1986). Các nguồn khác xác định sư đoàn 31 thuộc quân đoàn 11 là đơn vị đánh đồi 1200. Không ngoại trừ trường hợp cả hai đơn vị này đều tham gia tấn công. Thậm chí nếu họ chỉ dùng hai sư đoàn để tấn công, quân Trung Quốc cũng có lợi thế về số lượng, với 24.000 quân chống lại chừng 10.000 quân của sư đoàn 313 của Việt Nam.

11^ Ziwei Huanji. Phía Trung Quốc cho biết các trung đoàn đơn lẻ thuộc các sư đoàn 316, 312, và 345 của Việt Nam tham gia trong trận phòng ngự này.

12^ Lịch sử Lữ đoàn pháo binh 168, 1978–1998 trang 32–43.

13^ B.P. Mahony, “Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson versus Stalemate,” trang 14

14^ “Trận Núi Đất” theo BBC

15^ “Trận Núi Đất” theo BBC

16^ Edward C. O’Dowd, trang 100

17^ “Intelligence,” Far Eastern Economic Review, 2-8 năm 1984

18^Paul Quinn-Judge, “Borderline Cases,” Far Eastern Economic Review, 21 tháng 6 năm 1984, trang 26


MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TẠI VỊ XUYÊN, HÀ GIANG

http://danluan.org/files/u2/HuyDuc_BienGioiThangHai.jpg

http://www.viet-studies.info/kinhte/BienGioiThangHai.jpg

TRẬN PHÒNG NGỰ Ở BÌNH ĐỘ 1100 (VỊ XUYÊN – HÀ TUYÊN)
của đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 2, sư đoàn 3, quân đoàn 14 Quân khu 1.
Ngày 2-12-1985.
(Nguồn : KNCĐ).
ĐỊA HÌNH
Nơi xảy ra chiến đấu là bình độ 1100 nằm trên dãy núi đất 1509, cách đỉnh 1,5km. Giữa bình độ 1100 và 1000 là mỏm 1050. Phía tây bắc bình độ 1100, cách 50m là đồi tiền tiêu, chỉ cách địch 100m là nơi hai bên thường tranh chấp, bên trái đồi tiền tiêu là đồi chè địch có thể đánh vào sườn trái trận địa. Ngang với đồi chè, cách 800m về phía tây, giữa bình độ 1200 và 1100 là đồi Không Tên, có thể ngăn chặn địch vu hồi vào sườn trái hoặc luồn vào phía sau. Trong khu vực pháo hai bên bắn phá nhiều nên bề mặt đất tơi vụn, chỉ còn ít cây cối. Hàng ngày thường có sương mù từ chiều đến 7-8 giờ sáng, hôm tác chiến có sương mù cả ngày.

TÌNH HÌNH ĐỊCH
Tháng 4-1984, sau khi chiếm 1509 và 722, địch tiếp tục lấn sang đất ta đến bình độ 1200 phải dừng lại, xây dựng trận địa phòng ngự tiếp xúc với ta.
Địch thường xuyên bắn pháo, tung biệt kích, thám báo sang trinh sát trận địa ta. Ngày 30-5-1985 địch bắn hàng ngàn quả đạn pháo trong suốt 24 tiếng và cho 1 trung đoàn bộ binh từ đỉnh 1509 đánh xuống 1100, bản Nậm Ngặt, đồi Không tên nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng, phải chạy về 1509.
Từ 11-6 đến 7-10-1985 địch thường xuyên bắn phá, dùng cả đạn hoá học và nhiều lần tấn công cả ban ngày và ban đêm nhưng đều bị ta đánh lui.
Mùa khô năm 1985, lực lượng địch vào thay phiên. Phòng ngự ở 1509 là trung đoàn 603, sư đoàn 201, quân đoàn 67 Đại quân khu Tế Nam. Địch tổ chức đánh lấn trên toàn tuyến nhằm cải thiện thế trận, phá thế xen kẽ, lấn dũi trên hướng Nậm Ngặt của ta.
Cuối tháng 11-1985 địch tăng cường bắn phá, trinh sát. Trong 4 ngày từ 28-11 đến 1-12-1985 địch bắn 3.000 viên đạn pháo và hoả tiễn vào khu núi đá phía đông và khu núi đất. Riêng 1100 ngày 28-11-1985 địch bắn 300 viên, ngày 29-11 và 30-11 mỗi ngày bắn 100 viên. Ngày 1-12-1985 địch không bắn vào 1100.

TÌNH HÌNH TA
Trận địa ta ở 1100 và 1050 có hầm kèo bằng gỗ và bê tông, chịu được đạn cối 120mm. Hệ thống công sự, giao thông hào, chiến hào đảm bảo tốt cho chiến đấu. Hào cơ động giữa các trung đội và về tiểu đoàn đảm bảo đi lại thuận tiện trong mọi tình huống. Giữa 1100 và 1050 có một đường hào đi lại, cấu trúc đặc biệt để ngăn chặn địch phát triển (đặc biệt thế nào thì không nói được hè hè).
Hệ thống vật cản là các bãi mìn chống bộ binh trên hướng đồi tiền tiêu, nhưng địch bắn phá đã làm mất tác dụng.Tháng 2-1985, cấp trên tăng cường trung đoàn 2, sư đoàn 3 cho mặt trận. Ngày 22-4-1985 thay phiên phòng ngự, lấy phiên hiệu là trung đoàn 981, sư đoàn 356 Quân khu 2.
Tiểu đoàn 1 được lệnh hòng ngự hướng núi đất xã Thanh Đức, phía tây Thanh Thủy.
Đại đội 2, tiểu đoàn 1 tham gia chiến đấu với quân số 80 người. Vũ khí có 2 khẩu cối 60mm, 2 khẩu đại liên, 9 khẩu trung liên, 6 khẩu B40 và B41, 2 khẩu M79, còn lại là AK. Được tăng cường 1 khẩu cối 60mm và 1 khẩu 12,7mm.
Chiến sĩ đa số nhập ngũ năm 1983, 1984, một số năm 1981.
Cán bộ chiến sĩ được huấn luyện tốt, tinh thần, quyết tâm cao, đã nắm được nhiệm vụ, phương án chiến đấu và đã có kinh nghiệm sau gần một năm phòng ngự.
Sau đợt chiến đấu ngày 7-10-1985 đại đội 2 vào phòng ngự ở 1100, 1050 thay đại đội 1.
Một trung đội và 1 đại liên ở đồi tiền tiêu và Gò chè.
Hai trung đội và 2 khẩu cối 60mm phòng ngự phía sau ở 1100.
Một trung đội và 1 cối 60mm, 1 khẩu 12,7mm, 1 đại liên phòng ngự ở 1050 và làm lực lượng cơ động.
Đơn vị bạn trong khu vực : bên phải là đại đội 5, tiểu đoàn 5, trung đoàn 153 ở trận địa lấn dũi bản Nậm Ngặt, bên trái alf đại đội 3 ở đồi Không Tên, phía sau là đại đội 1 thiếu ở bình độ 1000 đến 900.
Trong chiến đấu đơn vị được hoả lực tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tiểu đoàn 1, 2 và trung đoàn 153 chi viện gồm : 2 tiểu đoàn pháo 76,2mm và 122mm gồm 18 khẩu, 2 đại đội cối 106,7mm và 120mm gồm 4 khẩu; 2 đại đội và 1 trung đội cối 82mm gồm 10 khẩu. Ngoài ra có pháo binh quân khu.

DIỄN BIẾN
Từ 28-11-1985 đến 1-12-1985
Pháo địch bắn phá. Đại đội đôn đốc các phân đội tăng cường cảnh giới, ẩn nấp bảo vệ lực lượng, sửa chữa công sự. Sẵn sàng chiến đấu.
Ngày 2-12-1985
Địch tiến công trên cả 3 khu vực : Pha Hán, đông bắc 685 (khu núi đá) và bắc Thanh Đức (khu núi đất).
03h00 : bộ phận trực chiến ban đêm (50% quân số) ở đồi tiền tiêu và gò chè nghe tiếng động trước tiền duyên, dùng cối 60mm và M79 bắn vào những nơi đó. ĐỊch không phản ứng.
04h00 : bộ đội ra vị trí trực chiến 100%.
06h30 : trời vẫn còn sương mù dày đặc, tầm quan sát hạn chế nhưng pháo cối địch bắt đầu bắn chuẩn bị trên toàn hướng phòng ngự của trung đoàn. Riêng phạm vi từ bình độ 1100 đến 700 địch bắn 20.000 viên đạn pháo cối trong 2 giờ. Nhiều công sự của ta bị sụt lở.
Trong lúc pháo bắn chuẩn bị, 2 tiểu đoàn bộ binh địch từ 1509 triển khai tấn công :
Hướng chủ yếu : mũi 1 khoảng 1 tiểu đoàn từ 1200 theo sống núi đánh xuống đồi tiền tiêu, mũi 2 khoảng 1 đại đội tăng cường từ sườn tây đánh gò chè.
Hướng vu hồi : mũi 3 khoảng 1 đại đội tăng cường theo sườn đông bắc (tây Nậm Ngặt) đánh vào 1050 cắt phía sau 1100.
Hướng phối hợp : 1 mũi khoảng 1 đại đội từ hía bắc đánh xuống trận địa lấn dũi của đại đội 5 ở Nậm Ngặt, 1 mũi khoảng 1 đại đội từ tây 1400 đánh xuống đồi Không tên. 2 mũi này bị ta đánh lui.
Từ lúc pháo bắn, tuy bị mất liên lạc với phân đội phòng ngự nhưng trung đoàn phán đoán địch tấn công nên đã cho súng cối bắn chặn trước tiền duyên 1100, gò chè, bắc Nậm Ngặt và vào trận địa địch ở 1200 đến 1300 và 1509, đồng thời báo cáo sư đoàn, đề nghị pháo binh sẵn sàng chi viện.
08h30 : cuối giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, địch bắn đạn nổ không mảnh vào 1100 từ 7-10 phút (từ 1050 xuống vẫn bắn đạn sát thương). Đồng thời bộ binh của hai mũi hướng chủ yếu nhanh chóng tiếp cận trận địa ta, chiến sĩ cảnh giới không phát hiện nên bộ đội vẫn ở trong hầm tránh pháo. Khi đã vào sát chiến hào, cùng một lúc địch xung phong bất ngờ và đột nhập trận địa. Đồi tiền tiêu và 1100 ta bị hy sinh 2 và bị thương 7 đồng chí. Gò chè hy sinh 7 đồng chí, chỉ còn 2 đồng chí chiến đấu.
Sau khi đột nhập, địch phát triển đánh vào bên trong. Mũi 1 chia làm 2 bộ phận đánh sang sườn đông và lên đỉnh nơi bố trí đại liên. Mũi 2 chia làm 2 bộ phận đánh vào sườn tây nơi có hầm chỉ huy đại đội và bọc phía nam 1100.
Lúc này pháo cối ta vẫn bắn chặn trước tiền duyên và trên đỉnh 1509. Đại đội trưởng đang ở đồi tiền tiêu thấy địch đã kịp thời báo cáo tiểu đoàn đồng thời ra lệnh cho bộ đội chiến đấu.
Trung đoàn nắm được tình hình đã tập trung toàn bộ súng cối của trung đoàn, tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 5 trung đoàn 153 (sắp vào thay phiên) bắn mãnh liệt bao bọc quanh tiền duyên từ tây gò chè đến đông 1050, yêu cầu pháo sư đoàn và quân khu bắn từ bình độ 1200 trở lên. Hoả lực ta từ cối 82mm trở lên bắn cách mép hào 100m, cối 60mm bắn sát mép hào rất chính xác đã chia cắt lực lượng địch phía sau, cô lập bọn đã đột nhập trận địa.
Bên trong điểm tựa, bộ đội ta chiếm giữ các cửa hầm đánh địch. Mũi 1 nhiều tên bị diệt, số còn lại không phát triển được. Mũi 2, một toán 7-8 tên mang bộc phá tới gần hầm đại đội trưởng, chiến sĩ trong hầm phát hiện, dùng lựu đạn tiêu diệt. Cùng lúc đó, đại liên và 12,7mm của ta ở 1050 bắn mãnh liệt vào đội hình địch diệt nhiều tên, số còn sống phải chạy trở ra (1 tên bị thương nằm sát mép hào phía tây, chiến sĩ ta kéo xuống một lcú sau thì chết).
Pháo cối của ta vẫn bắn chặn địch. Tiểu đoàn và trung đoàn đã điều động lực lượng lên tăng viện : đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) tăng cường 1 trung đội của đại đội 6 (lên tăng cường cho tiểu đoàn 1 từ lúc pháo địch bắn chuẩn bị) lên 1050 thực hành phản kích sang 1100. Bộ phận phản kích triển khai thành 3 mũi phối hợp với đại đội 2 đánh bật quân địch ra khỏi trận địa, lúc tháo chạy địch phải bỏ lại nhiều xác.
Sau khi khôi phục trận địa, đại đội 2 được tăng cường trung đội của đại đội 6 tiếp tục phòng ngự ở 1100, còn đại đội 1 (thiếu 1 trung đội) phòng ngự ở 1050.
Trong lúc đại đội 1 phản kích, trung đoàn điều đại đội 6 (thiếu 1 trung đội) tăng cường cho tiểu đoàn 1 bố trí ở bình đọ 900-1000 làm lực lượng cơ động và điều 1 trung đội của đại đội 7 lên bố trí ở trận địa đại đội 6, sẵn sàng tăng cường cho tiểu đoàn 1.
09h00 – 13h40 : địch tổ chức 4 lần xung phong, mỗi lần cách nhau từ 1 giờ đến 1 giờ 30 phút. Trước khi xung phong địch dùng pháo cối bắn chế áp và vẫn chia làm 3 mũi như lần một. Cả 4 lần địch đều bị lực lượng ta, có pháo cối chi viện đánh ngay trước trận địa không để vào gần chiến hào. Chúng chỉ kịp lấy xác đồng bọn rồi rút ngay.
15h00 : sau lần xung phong thứ 5 bị ta đánh lui, địch phải rút về 1509 và ngừng bắn pháo.
Ban đêm địch bắn 43 quả pháo sáng để thu dọn chiến trường. Đại đội 1 ra thay phiên cho đại đội 2.

KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU
Ta diệt 170 tên, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 1 đại đội của trung đoàn 603 địch, thu một số vũ khí, quân trang. Địch bỏ lại 30 xác trước chiến hào tiền duyên, 7 xác trong trận địa và trên nóc hầm đại đội trưởng.
Bên ta hy sinh 11 đồng chí, bị thương 21 đồng chí.
Tiêu thụ đạn dược :
Đạn pháo các loại : 2.350 viên. Cối 106,7mm và 120mm : 1.120 viên. Cối 82mm : 3.400 viên. Cối 60mm : 990 viên. Lựu đạn : 1.000 quả.


MÔ TẢ CỦA PHÍA TRUNG QUỐC VỀ CUỘC CHIẾN ÁC LIỆT NGÀY 12-7-1984 TẠI LÃO SƠN ( 1509 ), THANH THỦY, VỊ XUYÊN, HÀ GIANG

( Trích từ mạng Trung Quốc… )


Ngày 12-7-1984, được coi là trận đánh lớn nhất của giai đoạn 1984-1991. Theo phía TQ, phía VN đã huy động 6 trung đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn bộ binh 312, 313, 316 và 356 để tấn công 1 trung đoàn bộ binh TQ phòng ngự ở 1509. Quân TQ được sự yểm trợ của hàng vạn quả đạn pháo đã đẩy lui cuộc tấn công. Theo phía TQ thì VN chịu tổn thất rất lớn, hơn 3,700 quân đã đã ngã xuống trận địa này.

Theo thông tin của các cán binh VN tham gia trận đánh 1509, “trung đoàn bộ binh 982 của sư đoàn bộ binh 313 đã tái chiếm thành công 1509. Nhưng sau đó bộ phận phòng ngự vì nhiều lý do đã tự ý bỏ chốt và TQ chiếm được 1509 lần thứ hai. Kể từ đây không có thêm trận phản kích nào nữa. Từ 1509, quân TQ lấn xuống tới bình độ 1200 thì bị chặn lại, bộ đội VN giữ được từ bình độ 1100 trở xuống.”

Các trận giành giật tiếp tục diễn ra, chủ yếu với quy mô đại đội, ác liệt nhất trong những năm 1984-1987. Từ đó trở về sau, giao tranh bộ binh ít dần, hai bên chủ yếu sử dụng pháo. Trận đụng độ bộ binh cuối cùng diễn ra ngày 13-2-1991.

Dữ Kiện bí mật của chiến tranh Trung- Việt (Secret Records of Sino-Vietnamese War) của ba tác giả Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang Wei Ming vừa mới được chuyễn ngữ qua tiếng Anh. Chính qua tác phẩm này trận chiến xãy ra tại “Núi Đất” mới được tiết lộ cho thế giới biết.

Xin trích một đoạn bài viết dựa theo lời kể của một trung đoàn trưởng pháo binh TQ đã tham dự trận đánh chiếm Núi Đất (Lão Sơn) năm 1984 từ cuốn sách nói trên, do Trần Trung Đạo dịch. Mặc dù nhiều đoạn không che dấu được tính khoát loát, cường điệu cố hữu, những dữ kiện do viên trung đoàn trưởng cung cấp, cũng chứng tỏ rằng TQ vẫn không từ bỏ giấc mộng thiên triều xâm lược bắt nguồn từ chính sách bá quyền truyền thống của họ.

Bài tường thuật do môt Trung đoàn trưởng pháo binh quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc trong cuộc chiến Trung-Việt lần thứ hai.

Lưu ý: Núi Lão Sơn, cao 1422 mét trên mặt biển. Lão Sơn có nghĩa là “Núi Già” theo tiếng Tàu. Lão Sơn nằm bên trong lãnh thổ Việt Nam gần biên giới Trung Quốc. Sau cuộc chiến 1979, Việt Nam đã xử dụng đỉnh Lão Sơn như một trạm xuất phát, nơi các lực lượng Việt Nam điều hợp các cuộc do thám lớn vào TQ.

“Đầu năm 1984, trung đoàn của chúng nhận lệnh phải chiếm núi Lão Sơn. Ngày 18 tháng 2 chúng tôi tiến đến Ei-Liang ( Nhị Lương ), và ngày 20 đến đồi Ma -Sho ( Ma Sơn ). Sau 40 ngày chuẩn bị, ngày 1 tháng tư, 3 đại đội gia nhập “Đề án 142”. Bắn vài loạt đạn về phía Việt Nam và rút ngay, để buộc phía Việt Nam trả đũa, và qua đó, để lộ vị trí.

Chúng tôi dùng đại pháo để áp đảo địch. Ngày 26 tháng Tư, mọi việc đã được chuẩn bị sẵn sàng và Lực lượng đặc nhiệm pháo binh 119 được thành lập.

Để chiếm một căn cứ hỏa lực, chúng tôi tiến quân vào ban đêm. Không ai được phép gây tiếng động. Chúng tôi tháo gỡ các bộ phận súng 85 ly và chỉ lắp ráp lại sau khi đến căn cứ. Tầm hỏa lực chỉ cách địch quân 500 mét. Để thấy đường đi, chúng tôi dùng các tấm vải trải giường trắng. Chúng tôi bố trí súng dọc phía bên phải của một căn nhà hoang. Trung đội 4 thám thính tiến quá sát với địch quân, chỉ cách địch 400 mét và trong tầm bắn thẳng.

Ngày 28 tháng 4, lúc 5 giờ 50 sáng, pháo binh bắt đầu khai hỏa. Sau 34 phút pháo kích, mặt đất như bắt đầu rung chuyển. Lúc 6 giờ 24 phút sáng, khi trận pháo kích vừa ngưng, bộ binh mở cuộc tấn công. Quân đội Việt Nam phản ứng trong vòng 2 phút. Và ngay trong những viên đạn đầu tiên họ đã bắn hạ một trung đội trưởng của chúng tôi. Anh ta là đồng chí đầu tiên hy sinh tại Lão Sơn. Chúng tôi bắn yểm trợ cho bộ binh. Bộ binh tiến bằng cách nhảy từ miệng hố đạn này sang hố đạn khác. Sau 9 phút, chúng tôi chiếm được điểm cao 662.6, và 54 phút sau, núi Lão Sơn hoàn toàn lọt vào tay chúng tôi. Đến 3 giờ 30 chiều, khoảng 20 điểm cao phía đông điểm cao 662.6 cũng lọt vào tay chúng tôi. Chúng tôi cũng triệt hạ một xe tăng địch bằng 5 phát pháo trực xạ.

Ngày 11 tháng 6, lúc 3 giờ sáng, một viên pháo sáng được bắn lên. Chúng tôi tự hỏi chuyện gì đang xảy ra. Trong suốt 30 phút, chúng tôi không liên lạc được với các đơn vị khác bằng điện thoại. Tiểu đoàn 2 thám thính cũng bị gián đoạn liên lạc. Duy nhất một trung đội trưởng liên lạc được với chúng tôi và yêu cầu chúng tôi khai hỏa. Chúng tôi từ chối với lý do các đơn vị bạn cũng ở ngay trong vị trí đó. Chúng tôi yêu cầu 5 lính thám thính của tiểu đoàn 2 đến mặt trận, nhưng họ bị hỏa lực của địch ngăn chận. Trời sáng, viên chỉ huy toán thám thính với cả đại đội thám thính cũng bị đẩy lui. Tại điểm này chúng tôi biết các vị trí tiền phương của chúng tôi đã bị địch quân tràn ngập. Vào 5 giờ 30 sáng, với sự yểm trợ của tiểu đoàn pháo, chúng tôi mở cuộc phản công. Trong vòng 30 phút, chúng tôi chiếm lại các vị trí đã mất. Lúc 6 giờ, địch quân mở cuộc tấn công mới. Các đơn vị bộ binh của chúng tôi gọi pháo binh bắn yểm trợ. Khoảng 500 đến 600 địch quân tấn công vào phòng tuyến của chúng tôi giữa lúc các giàn tên lửa của chúng tôi cũng bắt đầu khai hỏa.

Chúng tôi giữ được vị trí và bắn hạ khoảng 100 quân địch. Tiểu đoàn pháo thứ hai của chúng tôi cũng vừa gia nhập mặt trận và tuôn đại pháo vào quân thù. Đến 3 giờ chiều, quân địch không thể nào đạt đến vị trí phòng thủ của chúng tôi. Lực lượng tiếp viện của địch đang cố gắng vượt qua sông và tấn công vào phía cạnh sườn của chúng tôi. Tư lệnh sư đoàn ra lệnh chúng tôi khai hỏa. Trước hết chúng tôi hướng nòng pháo vào 10 độ phía bên trái và rồi 10 độ phía bên phải. Cả đại đội địch quân đã không thể rút về vị trí của chúng.

Ngày 12 tháng 7, địch quân phản kích.

Sau 11 tháng 6, chúng tôi đã học được bài học. Các ống phóng tên lửa do tôi chỉ huy. Pháo 82 ly do các tiểu đoàn chỉ huy. Đơn vị pháo 100 mm được đào sâu vào và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tôi. 12 trung đội đại pháo, bao gồm 4 trung đội xe tăng được phân phối cho mỗi đơn vị. Các hỏa lực tăng cường sẽ được hướng dẫn để bắn thẳng vào những con đường mà quân địch chắc chắn sẽ dùng để tiến. Những con đường đó được chia ra. Mỗi đơn vị trinh sát được chọn một hướng. Hai trung đội pháo sẽ bắn vào con đường chính với mục đích làm chậm chân quân địch. Ba trung đội tên lửa đóng trên cao điểm 152. Một trong số đó do Li Hai-Ren ( Lí Hải Nhân ) chỉ huy. Mật ngữ để tấn công là Heo Rừng.

Ngày 12 tháng 7, chúng tôi biết được danh sách các đơn vị quân địch . Theo sự ước tính của chúng tôi, quân địch gồm hai trung đoàn thuộc sư đoàn 356, một trung đoàn thuộc sư đoàn 316, va 6 trung đoàn độc lập sẽ tham gia trận đánh.

Chúng tôi quả quyết quân địch sẽ tấn công lúc 5 giờ sáng. Lúc nửa đêm, chúng tôi có 2.5 lần số đạn bình thường sẳn sàng cho các khẩu pháo. Lúc 3 giờ sáng, tổng hành dinh thông báo 3 vị trí của quân địch và ra lệnh khai hỏa vào các vị trí đó.

Sau đợt pháo thứ nhất, tôi nói chuyện với trung đoàn trưởng Chang Yo-Hop. Tôi hỏi ông ta nếu ông ta là chỉ huy quân địch khu vực nào chắc chắn nhất ông sẽ tấn công. Viên trung đoàn trưởng trả lời là khoảng rộng 300 mét phía Bắc của dòng sông.

Tôi đồng ý với ông và chỉ thị cho 6 trung đội trọng pháo tập trung hỏa lực vào mục tiêu 1000 mét chung quanh khu vực đó. Tôi báo cáo quyết định đến bộ chỉ huy. Tư lệnh phó sư đoàn chấp thuận. Tôi ra lệnh pháo binh bắn từng loạt cách nhau 10 phút. Sau loạt pháo thứ hai, không có gì xảy ra (gạch bỏ phần chửi tục bằng tiếng Tàu). Tôi chỉ thị bắn hỏa châu soi sáng khu vực và kết quả cũng không có gì. Thật phí đạn. Bộ tư lệnh chỉ thị chúng tôi ngưng bắn. Lúc đó khoảng 3 giờ sáng. Nhiều binh sĩ của chúng tôi lăn ra ngủ ngay.

Ngay lúc đó chúng tôi mới khám phá ra rằng lực lượng tấn công của địch chỉ cách phòng tuyến chúng tôi 500 mét. Hai tiểu đoàn trưởng của địch bị giết tại chỗ. Mặc dù không có chỉ huy, quân địch đã không từ bỏ vị trí của chúng. Những lính bị thương cũng không rên rĩ. Họ di chuyển thương binh ra khỏi khu vực sau khi hỏa châu vừa tắt. Kỹ luật của quân địch thật không thể nào tin được.

Lúc 5 giờ sáng, cả địa ngục rung rinh. Trận đánh bùng nỗ tại mọi phía. Chúng tôi bắt được tù binh đầu tiên và tại điểm này chúng tôi đã gây thương vong trầm trọng cho địch quân. Qua các tù binh, chúng tôi biết những gì đã xảy ra trước đó. Địch quân quả thật kỹ luật đến nỗi họ tung ra cuộc tấn công ngay cả khi chỉ huy trưởng của họ đã tử trận. Quân địch cũng rất giỏi dấu tung tích. Họ ngay cả không dùng một phương tiện truyền tin vô tuyến nào trước khi tấn công.

Ngay khi quân địch tấn công, các đơn vị bộ binh chúng tôi gọi pháo yểm trợ. Tôi lo lắng sẽ bắn nhầm quân ta. Bộ chỉ huy ra lệnh tôi khóa phòng tuyến bằng cách bắn vào làn sóng tấn công thứ hai. Làn sóng tấn công thứ nhất thường là các đơn vị do thám, nơi phía sau có thể có cả trung đoàn đang yểm trợ. Các giàn tên lửa của chúng tôi nhả 13 tràng liên tục. Ngoài ra các khẩu pháo 85 ly, 100 ly, 152 ly cũng tham gia phản kích.

Chúng tôi bắn 200 mét về phía trước tại 6 điểm. Từ bên trái đến bên phải và từ phía sau đến bên trái lần nữa. Hỏa lực pháo chúng tôi dựng lên một bức tường lửa chung quanh các đơn vị của chúng tôi. Chúng tôi giết rất nhiều quân địch, và nhiều ống phóng tên lửa của chúng tôi nóng đỏ rực. Trong ngày đó, trung đoàn chúng tôi bắn trên 10 ngàn viên đạn pháo.

Đến trưa, chúng tôi hết đạn. Khi tin này này được báo lên tư lệnh trung đoàn Chang Yo-Hop, ông ta tỏ ra không vui. Không có hỏa lực pháo yểm trợ, thật không có cách gì ngăn chặn được sức tấn công của 6 trung đoàn địch. Tôi đã gọi tăng viện đạn dược ngay khi viên pháo đầu tiên được bắn đi.

Lúc 1 giờ chiều thì 470 xe tải chở đạn cũng vừa tới. Quân đội Việt Nam đã chiếm lại được cao điểm 164. Một trong những tiểu đoàn của họ chỉ còn 6 người sống sót nhưng họ vẫn tiến. Lực lượng bộ binh của chúng tôi bắt đầu khai hỏa phản công ngay. Cuộc pháo kích nặng nề cày nát điểm cao đó. Trong vòng 15 phút chúng tôi chiếm lại được cao điểm 164. Quân Việt Nam từ chối rút lui. Làn sóng này sang làn sóng người khác tiếp tục tiến lên giành lại ngọn đồi. Khi cuộc chiến tàn, chúng tôi đếm được 3700 địch quân địch bỏ thây trên mặt trận. Tư lệnh sư đoàn chúng tôi, cựu chiến binh từ thời nội chiến, cũng phải nói rằng ông ta chưa bao giờ thấy nhiều xác chết như thế. Chúng tôi tịch thu vũ khí và thắt lưng trên xác Việt Nam và phân phát cho lính trong trung đoàn chúng tôi. Đêm đó, bảy chúng tôi trong bộ chỉ huy trung đoàn với tư lệnh trung đoàn Chang Yo-Ho hút 4 bao thuốc. Chúng tôi không thể ăn, uống sạch cả bốn thùng rượu.

Ngày 14 tháng 7, chúng tôi ra tín hiệu cho phép phía Việt Nam để thu hồi xác chết. Chúng tôi chỉ thị cho họ mang cờ Hồng Thập Tự, mỗi toán không được quá 50 người và không được mang theo vũ khí. Một toán khoảng 60 đến 70 lính Việt Nam đến không có cờ. Khi biết chúng không tuân theo chỉ thị vì đeo theo đúng, chúng tôi khai hỏa.

Chúng tôi không quan tâm gì sinh mạng của chúng. Không một người nào trong nhóm lính này sống sót. Việt Nam chẳng còn đến thu hồi xác chết nữa. Trời đang là mùa hè. Nắng rồi mưa. Không ai có thể chịu được mùi xác chết. Chúng tôi buộc phải gởi các đơn vị chống hóa chất đến để đốt tất cả xác chết bằng những ống phun lửa.”

Ngoài ra cũng còn có một số các hồi ký của cán binh TQ đã từng tham gia trận đánh “Núi Đất” – 1509 – Lão Sơn – cũng đã kể lại những diễn tiến của trận chiến đó. Điển hình là bài viết dưới đây bằng tiếng Hoa của một cán binh TQ khi tham gia trận chiến Núi Đất, anh sẽ chỉ mới 17 tuổi, đăng trong mạng bộ quốc phòng Trung Quốc. Trong đoạn hồi ký này có nhắc đến việc 4 nữ cán binh VN bị lính Trung Cộng dùng súng phóng hoả thiêu chết sau khi cứ điểm 1509 – Núi Đất – Lão Sơn thất thủ.

THIỆT HẠI CỦA PHÍA TRUNG QUỐC KHI TẤN CÔNG LẤN CHIẾM CAO ĐIỂM 1509 ( LÃO SƠN ) VÀ CAO ĐIỂM 1200 ( Hay còn gọi là Si Cà Lá -Núi Bạc; Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn-Zheyin Shan )

( Tài liệu của mạng Trung Quốc )


Khác với trận đánh năm 1981 tiến công vào Lạng Sơn chiếm dải bình độ 400, trận đánh năm 1984 quy mô và lớn hơn rất nhiều, và có thể cũng chính vì như vậy mà mà mạng quân sự Trung Quốc gọi đây là cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai. Theo tài liệu của các webside quân sự Trung Quốc thì các đơn vị Trung Quốc tham chiến từ năm 1984 đến năm 1988 gồm có:

Binh đoàn quân khu Kôn Minh :

  • Sư đoàn bộ binh 31 (quân đoàn 11).
  • Sư đoàn bộ binh 32 (quân đoàn 11).
  • Sư đoàn bộ binh 40 (quân đoàn 14).
  • Sư đoàn bộ binh 41 (quân đoàn 14), gồm trung đoàn bộ binh 122, 123 và trung đoàn biên phòng 15.
  • Sư đoàn pháo binh số 4, ĐQK Kôn Minh.

Thời gian tham chiến : tháng 4-1984 đến tháng 4-1985.

Thiệt hại: 766 chết (gồm cả công nhân dân sự ?)
Trong đó:

  • Cao điểm Lão Sơn và Ba Lí và Đông Sơn : 651 chết.
  • Cao điểm Giải Âm Sơn : 115 chết.
  • Trận ngày 12-7 : trung đoàn 119 và 122 thiệt hại 61 chết.
  • Trung đoàn 118 : 198 chết.
  • Trung đoàn 96 : 41 chết, 298 bị thương.

Binh đoàn quân khu Nam Ninh :

  • Sư đoàn bộ binh số 1 (quân đoàn 1).
  • Sư đoàn bộ binh 36 (quân đoàn 12).
  • Sư đoàn pháo binh số 3, ĐQK Phúc Châu.
  • Sư đoàn pháo binh số 9, ĐQK Nam Ninh.

Thời gian tham chiến : tháng 12-1984 đến tháng 5-1985.

Thiệt hại : 404 chết.
Trong đó :
- Sư đoàn bộ binh số 1 : 359 chết.
- Sư đoàn bộ binh 36 : 38 chết.
- Sư đoàn pháo binh số 9 : 7 chết


Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: